Chương 1: Lịch sử tư tưởng nhận thức về quyền con người, quyền công dân Chương 2: Mối quan hệ giữa quyền con người và quyền công dân Chương 3: Thực trạng và một số phương hướng bảo vệ quyền con người, quyền công dân. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 LỊCH SỬ TƢ TƢỞNG NHẬN THỨC VỀ QUYỀN CON NGƢỜI, QUYỀN CÔNG DÂN 1. Các giai đoạn phát triển quyền con ngƣời, quyền công dân qua các chế độ xã hội Ở bất cứ thời kỳ nào, nhân loại cũng luôn dành sự quan tâm tới vấn đề mang cả ý nghĩa về mặt lý luận cũng như thực tiễn: vấn đề quyền con người và quyền công dân. Sự phát triển của quyền con người, quyền công dân qua từng giai đoạn lịch sử là dấu ấn rõ nét ghi lại kết quả của các cuộc đấu tranh giai cấp, cách mạng, xã hội.
Vì cho dù xét trên khía cạnh nào thì quyền con người, quyền công dân cũng ít nhiều thể hiện lợi ích của các tầng lớp trong xã hội, và một khi đã liên quan tới lợi ích thì sẽ khó mà không xảy ra những xung đột từ đó dẫn tới đấu tranh vì nó. Ăng ghen đã nói: “Lịch sử không làm gì hết, nó không có tính phong phú vô cùng tận nào cả, nó không chiến đấu ở những trận nào cả. Không phải lịch sử mà chính là con người, con người thực sự, con người sống mới là kẻ làm ra tất cả những cái đó” [4, t2, tr141]. Như vậy, lịch sử chỉ đóng vai trò chứng kiến, ghi lại sự phát triển của quyền con người, quyền công dân qua từng giai đoạn như nó đã làm đối với các sự vật hiện tượng khác vậy.
Câu hỏi đặt ra là: Lịch sử đã ghi lại từng thời kỳ phát triển của quyền con người, quyền công dân, vậy những tư tưởng này xuất hiện từ khi nào và các giai đoạn phát triển của nó ra sao?. Theo một số học giả, những tư tưởng về quyền con người, quyền công dân xuất hiện và được ghi dấu ấn đầu tiên cùng với sự xuất hiện của văn minh cổ đại. Văn kiện được chú ý nhất và được đánh giá là chứa đựng các tư tưởng thành văn rõ nét về quyền con người, quyền công dân là Bộ luật Hammurabi 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com do nhà vua Hammurabi xứ BaBylon ban hành (thời điểm vào khoảng năm 1780 trcn). Nhà vua xứ này đã thể hiện tấm lòng thương dân của một vị vua anh minh khi thiết lập ra đạo luật để xác định ranh giới quyền của thần dân vương quốc mình sử dụng nó như một công cụ để “ngăn ngừa những kẻ mạnh áp bức kẻ yếu” [11,tr226] Có thể nói đây là văn kiện đầu tiên thể hiện những tư tưởng về quyền con người, quyền công dân phản ánh cái nhìn của giai cấp thống trị đối với tầng lớp thấp quyền hơn, tuy rằng mới chỉ mang tính sơ khai.
Sau bộ luật Hammurabi, nhân loại có thêm nhiều văn bản pháp luật khác đề cập tới những giá trị cơ bản của quyền con người, quyền công dân. Dù được thể hiện ở văn bản nào và là ý chí của nhà tư tưởng nào đi nữa thì quyền con người, quyền công dân cũng luôn gắn bó mật thiết với lập trưởng, lợi ích của giai cấp thống trị. Xét cho cùng thì vẫn là vấn đề lợi ích, ở chế độ nào thì giai cấp thống trị cũng luôn tìm mọi phương cách để xác lập quyền và lợi ích của mình đối với tầng lớp bị trị và điều đó khiến chúng có nhiều cách giải thích khác nhau về quyền con người, quyền công dân để hợp thức hóa và xác lập địa vị của mình. Ở xã hội chiếm hữu nô lệ, người nô lệ là giai cấp bị trị với quyền và lợi ích luôn bị chi phối bởi tầng lớp thống trị của chế độ này là giai cấp chủ nô.
Đúng với quy luật của lịch sử, tầng lớp bóc lột khi bị đẩy vào đường cùng thì đấu tranh là hành động tất yếu xảy ra, và những cuộc khởi nghĩa giành lại những quyền chính đáng đã bị giai cấp thống trị tước mất nổ ra. Xã hội chiếm hữu nô lệ - đại diện cho chế độ xã hội phân chia giai cấp đầu tiên đã bị sụp đổ bởi sự đấu tranh giành lại quyền làm người, quyền tự do. Sự kiện này đánh dấu mốc rằng con người đã dần nhận thức được quyền của mình trong xã hội và bắt đầu đứng lên bảo vệ chúng với ý thức gìn giữ giá trị quyền cơ bản chứ không chỉ mang ý nghĩa đấu tranh vì những lợi ích kinh tế trực tiếp trong đời sống. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Xã hội chiếm hữu nô lệ sụp đổ là thành quả đấu tranh của tầng lớp bị trị mà không thiếu được sự kết hợp từ quá trình đào thải của xã hội khi một chế độ không còn phù hợp.
Tưởng chừng như “con người nô lệ” sẽ được tận hưởng những giá trị quyền mà mình đáng được có nhưng không, xã hội mới – xã hội phong kiến cũng đi tiếp con đường mà xã hội chiếm hữu nô lệ để lại. Trong xã hội phong kiến cũng phân chia giai cấp thống trị và bị trị rõ rệt, và tất nhiên quyền và lợi ích được nhắc đến và bảo vệ là của tầng lớp nắm quyền trong xã hội. Người nông dân cũng bị đàn áp và là tầng lớp “vô quyền” như người nô lệ trong xã hội chiếm hữu nô lệ trước đó, có chăng chỉ khác nhau về tên gọi và các hình thức bóc lột mà thôi. Với tính chất của chế độ xã hội như vậy, tư tưởng về quyền con người, quyền công dân, quyền tự do của con người – công dân trong xã hội khó mà được thể hiện rộng rãi và chính thống.
Chỉ có một số ít những văn kiện pháp lý thời kỳ này tồn tại được và để lại giá trị nghiên cứu tới thời điểm ngày nay, trong số đó không thể không nhắc tới Hiến chương Magra Carta do vua John của nước Anh ban hành năm 1215. Bản Hiến Chương được các nhà nghiên cứu về quyền con người, quyền công dân đánh giá cao về giá trị nhân văn sâu sắc. Khi có những quy định bảo vệ quyền của tầng lớp yếu trong xã hội một cách rõ nét. Dưới sự bóc lột, chèn ép của tầng lớp chuyên chế, giai cấp bị trị một lần nữa đứng dậy đấu tranh giành lại những đặc quyền mà đáng lý ra con người nào cũng được hưởng chứ không phải chỉ dành riêng cho tầng lớp “bề trên” như hiện tại.
Giai cấp tư sản với sự khôn khéo của mình đứng lên với khẩu hiệu sẽ đem lại tự do bình đẳng cho mọi người trong xã hội để kêu gọi được người dân trong xã hội phong kiến lật đổ chế độ chuyên chế hiện tại. Với vũ khí là cam kết đem lại là một xã hội dân chủ, tự do, bình đẳng; mọi người được sống, được hưởng những quyền và lợi ích chính đáng, giai cấp tư sản đã giành được niềm tin của người dân. Thời kỳ này, nhiều tư tưởng 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com về quyền con người, quyền công dân được đề cập và nhắc đến như những học thuyết thực sự. Trong các thế kỷ XVII – XVIII, nhiều nhà triết học mà tiêu biểu là Thomas Hobbes (1558 – 1679), John Locke (1632 – 1704), Thomas Paine (1731 – 1809), Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770 – 1831), Henry David Thoreau (1817 – 1862)…đã đưa ra những luận giải về rất nhiều vấn đề lý luận cơ bản của quyền con người, đặc biệt là về các quyền tự nhiên và quyền pháp lý, mà vẫn còn có ý nghĩa quan trọng với việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người trong thời đại ngày nay.
Các nhà tư tưởng học trên hướng sự nghiên cứu của mình tới quan điểm con người tự nhiên, ở đó con người có quyền sống, quyền bình đẳng, quyền tự do, quyền được chiếm hữu tài sản…Quyền của con người theo quan điểm này là những quyền tự nhiên nhất có từ khi con người sinh ra nhưng nó cũng mang cả ý nghĩa về mặt pháp lý và được coi là nền tảng của quyền lực nhà nước. Giai cấp tư sản đã đạt được điều mà nó muốn là lật đổ chế độ chuyên chế phong kiến dưới sự giúp sức to lớn của tầng lớp bị trị trong xã hội. Khi đã đạt được mục đích thì ít nhiều giai cấp tư sản cũng cần thực hiện những cam kết về quyền cho giai cấp bị bóc lột. Vì lẽ đó, các quyền con người, quyền công dân đã được ghi nhận và thể hiện tập trung ở chế định về quyền – địa vị pháp lý – vị trí xã hội của công dân trong Hiến pháp và pháp luật của nhà nước.
Với hành động này thì dù biết rằng giai cấp thống trị nào cũng chỉ chăm chăm xác lập, bảo vệ quyền lợi của giai cấp mình nhưng cũng không thể phủ nhận giai cấp tư sản đã ghi một dấu mốc khá quan trọng trong lịch sử: đưa quyền con người, quyền công dân tiến lên một nấc thang mới đó là được thừa nhận trong văn kiện có giá trị pháp lý lớn nhất của quốc gia: Hiến pháp và luật. Điểm sáng nổi bật của giai cấp tư sản nắm quyền đó là đã xác lập và thừa nhận quyền con người, quyền công dân tại hai bản Tuyên ngôn quan 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trọng trong lịch sử tư tưởng về quyền con người, quyền công dân đó là Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp của Mỹ năm 1776; Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1789. Hai bản tuyên ngôn này được đánh giá là những văn kiện quan trọng trong chiều dài phát triển của tư tưởng quyền con người, quyền công dân, chúng được coi là bản cương lĩnh chính trị và là hình thức pháp lý thành văn rõ rệt nhất để khẳng định và bảo vệ quyền của giai cấp tư sản. Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776 là văn bản chính trị tuyên bố ly khai khỏi Anh của 13 nước thuộc địa Bắc Mỹ được tuyên bố vào tháng 7 năm 1776.
Nội dung chính của bản Tuyên ngôn được xây dựng dựa trên những quan điểm và tư tưởng của một triết học gia người Anh John Locke. Theo nhà triết học này thì ba quyền cơ bản của loài người mang tính tự nhiên nhất không đối tượng nào có thể tước bỏ được đó là quyền sống, quyền tự do và quyền có tài sản. Quyền sở hữu tài sản được Jefferson nói tới trong Tuyên ngôn đó là quyền mưu cầu hạnh phúc. Tuyên bố dõng dạc trong Tuyên ngôn: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng.