CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG CƠ LỰA CHỌN NGHỀ NGHIỆP, SỰ GẮN KẾT, KẾT QUẢ HỌC TẬP 1. Tổng quan nghiên cứu Tổng quan tài liệu trình bày tổng quan về các nghiên cứu học thuật liên quan đến nghiên cứu đang tiến hành (Creswell, 2007). Xây dựng bối cảnh các nghiên cứu từ trước tới nay, nội dung chỉ ra trong các tài liệu liên quan về chủ đề chính, bổ sung và mở rộng các nghiên cứu trước đây (Marshall & Rossman, 2014). Tổng quan tài liệu trong chương này cũng đưa ra bối cảnh hiện tại để xác định tầm quan trọng của nghiên cứu, cũng như tiêu chuẩn để so sánh kết quả của nghiên cứu này với các nghiên cứu đã có.
Chương này tóm tắt các nghiên cứu liên quan đến các động cơ lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên, bao gồm cả tài liệu liên quan đến mối quan hệ giữa kết quả học tập, và động cơ lựa chọn nghề nghiệp. Tổng quan thứ hai về sự gắn kết của sinh viên vào lớp học và kết quả học tập. Cuối cùng là tổng quan tài liệu mối quan hệ giữa ba vấn đề: Động cơ chọn nghề, sự gắn kết và kết quả học tập.1 Mối quan hệ giữa động cơ lựa chọn nghề nghiệp và kết quả học tập Kết quả học tập là khía cạnh quan trọng đối với mỗi học sinh, sinh viên và từ lâu đã trở thành mối quan tâm lớn của các nhà giáo dục. Mối quan hệ được giải thích qua các lý thuyết, cuối cùng tìm ra thực tế ứng dụng vào lĩnh vực giáo dục.
Động cơ của sinh viên ảnh hưởng tích cực đến kết quả học tập của sinh viên (Martin, 2003), không những thế có nghiên cứu nhận định rằng động cơ đăc biệt quan trọng để học tập hiệu quả, sinh viên có động cơ cao hơn thường có kết quả học tập tốt hơn trong các lớp học (Pintrich, 2003). Williams and Williams (2011) cũng nhấn mạnh rằng động cơ có lẽ là yếu tố 7 quan trọng nhất mà các nhà giáo dục có thể nhắm đến để nâng cao trình độ và kết quả học tập. Các lý thuyết hiện đại về động cơ cho thấy rằng các mức độ nỗ lực khác nhau được quan sát thấy ở các lớp khác nhau sẽ có những kết quả học tập khác nhau, một phần do mục đích cốt lõi để thực hiện các hoạt động học tập và khả năng nhận thức của sinh viên (Pajares, 1996). Các lý thuyết sẽ làm rõ mối quan hệ giữa động cơ và kết quả học tập.
Từ góc độ Lý thuyết giá trị và kỳ vọng, động cơ của sinh viên là một chức năng của kỳ vọng cho sự thành công trong học tập (kết quả học tập cao) của họ. Eccles và đồng nghiệp xác định kỳ vọng cho thành công như niềm tin về việc bản thân họ sẽ làm tốt như thế nào trong các nhiệm vụ học tập sắp tới, bao gồm nhận thức của họ về khả năng thành công trong học tập và trên các lĩnh vực rộng hơn (Eccles & Wigfield, 2002; Wigfield & Eccles, 2000, 2002). Giá trị này bao gồm một tập hợp các niềm tin về điều gì là quan trọng, hữu ích đối với bản thân họ. Những niềm tin này xuất hiện cả từ các chuẩn mực của xã hội và ý thức của cá nhân về bản thân (Eccles & Wigfield, 2002).
Giá trị của mỗi cá nhân ảnh hưởng đến sức hấp dẫn của các đối tượng mục tiêu khác nhau, dẫn đến động cơ để đạt được những kết quả (Eccles & Wigfield, 2002). Cách tiếp cận chủ yếu để hình thành khái niệm và vận hành lý thuyết giá trị và kỳ vọng là mối quan hệ cộng hưởng giữa kỳ vọng và các giá trị sao cho cả hai đều có tương quan thuận và dẫn đến kết quả học tập tích cực (ví dụ, Eccles & Wang, 2012; Eccles & Wigfield, 2002; Wigfield & Eccles, 2000; Wigfield và cộng sự, 2004; Nagengast et al, 2011). Mối quan hệ giữa động cơ lựa chọn nghề nghiệp và sự gắn kết Khi tìm cách làm rõ mối liên hệ giữa động cơ và sự gắn kết, Skinner và Pitzer (2012) khẳng định rằng trong khi lý thuyết động cơ liên quan đến các 8 quá trình tâm lý làm nền tảng cho mục đích và tính bền bỉ của hành động. Sự gắn kết là biểu hiện rõ ràng hơn tính duy trì của các quá trình đó.
Vì vậy, động cơ được coi là tiền đề sự gắn kết của sinh viên, qua đó chất lượng và mức độ sự gắn kết có thể được dự đoán bởi chất lượng và mức độ động cơ của sinh viên (Skinner & Pitzer, 2012). Các nhà tâm lý học coi sự gắn kết của sinh viên là con đường chính mà các quá trình tạo động cơ góp phần vào việc học tập và phát triển của sinh viên. Sinh viên có sự gắn kết học tập sẽ tự điều chỉnh việc học của mình, lập kế hoạch cho các nhiệm vụ học tập sắp tới và kiên trì khi găp trở ngại và thách thức. Trong khi động cơ nghề nghiệp đề cập đến các mục tiêu, giá trị và niềm tin trong nghề nghiệp thì sự gắn kết đề cập đến việc thể hiện hành vi về nỗ lực, thời gian và sự kiên trì trong việc đạt được kết quả mong muốn (Guthrie, Wigfield, & You, 2012).
Ví dụ, động cơ của sự hiệu quả của bản thân (được định nghĩa là niềm tin vào khả năng thành công của một người trong một nhiệm vụ nhất định và làm tăng nỗ lực và sự bền bỉ trong việc thực hiện nhiệm vụ học tập. Sự bền bỉ này như một khía cạnh của sự gắn kết làm tăng mức độ hoàn thành và đạt được kết quả cao trong một nhiệm vụ học tập. Trong chương tổng quan về mối quan hệ của động cơ, sự gắn kết và kết quả, Eccles và Wang (2012) chỉ ra mối liên hệ và có cả quan hệ nhân quả giữa các cấu trúc này. Hơn nữa, dựa trên các lý thuyết về động cơ nhận thức-xã hội, người ta cho rằng niềm tin về động cơ của sinh viên làm trung gian cho mối quan hệ giữa môi trường lớp học được nhận thức của sinh viên và sự gắn kết của họ (Li, 2013).
Nói cách khác, động cơ thúc đẩy sự gắn kết, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho thành tích. Trong lý thuyết giá trị và kì vọng, động cơ chọn nghề của sinh viên là một chức năng của kỳ vọng cho sự thành công trong học tập và sự nghiệp. Eccles và đồng nghiệp (Eccles & Wigfield, 2002; Wigfield & Eccles, 2000) 9 đã định nghĩa những kỳ vọng để thành công là niềm tin của các cá nhân về việc bản thân họ sẽ làm tốt như thế nào trong các nhiệm vụ sắp tới, bao gồm nhận thức về khả năng thành công trong học tập và nghề nghiệp tương lai của họ. Giá trị này liên quan đến nhận thức trong sự gắn kết và động cơ.
Lý thuyết về giá trị và kỳ vọng phù hợp quan niệm của các tác giả này về động cơ. Hơn nữa, các hành vi của sự gắn kết như hoàn thành bài tập về nhà và tham gia trong các lớp học có thể được coi là biểu hiện tích cực có thể nhìn thấy của động cơ và nghỉ học như một biểu hiện dê thấy của động cơ học tập tiêu cực hoăc thấp. Trong một nghiên cứu kiểm tra về nhận thức, tương tác cảm xúc và hành vi, Anderman và Patrick (2012) cho rằng động cơ (dưới dạng các mục tiêu) có trước sự tự điều chỉnh và nỗ lực. Các sinh viên chán nản, lo lắng và cô đơn sẽ không cũng có động cơ học tập cao.
Theo đó, cảm xúc tiêu cực luôn luôn tỉ lệ nghịch với động cơ học tập và kết quả học tập tích cực. Lý thuyết về tính tự quyết là một lý thuyết về động cơ của con người được xây dựng và phát triển bởi các nhà tâm lý học người Mỹ E. Ryan vào giữa những năm 80 của thế kỷ trước. Lý thuyết này đưa ra mối liên hệ giữa động cơ với sự nhận thức và hành vi của sinh viên.
Lý thuyết phân loại động cơ thành 3 loại, trong đó, động cơ bên ngoài gồm 4 mức được sắp xếp theo mức độ tự chủ (autonomous) từ thấp đến cao. Lý thuyết tự quyết cho rằng tất cả con người đều có ba nhu cầu tâm lý cơ bản: quyền tự chủ, năng lực và sự gắn kết làm nền tảng cho sự phát triển. Ba nhu cầu này kích thích sự tham gia của người học (Gagné & Deci 2005). Môi trường học tập đáp ứng ba nhu cầu có khả năng nâng cao động lực bên trong của sinh viên, dẫn đến thái độ tích cực đối với việc học và tăng cường sự tham gia (Gagné & Deci 2005).
Khi những nhu cầu này được hỗ trợ tối ưu, bằng chứng cho thấy mọi người tự chủ hơn trong các hành vi của họ, có nhiều khả năng kiên trì với hành vi của họ và cảm thấy tốt thực hiện nhiệm vụ. 10 Bên trên đã đưa ra các nghiên cứu để xác định mối quan hệ giữa động cơ và sự gắn kết. Có ba thành phần trong sự gắn kết là nhận thức, cảm xúc và hành vi, các nghiên cứu đa số đi sâu vào mối quan hệ giữa phần nhận thức và hành vi của sự gắn kết và động cơ (Fredericks, Blumenfeld & Paris, 2004). Hầu hết các quan điểm mới về động cơ đều nhấn mạnh đến nhận thức của cá nhân (Eccles và cộng sự, 1998; Pintrich & Schunk, 2002).
Động cơ là một trong những thành phần quan trọng để nhận thức, nó đóng một vai trò quan trọng trong quá trình thay đổi khái niệm của tư duy phản biện, chiến lược học tập. Cùng với Nhận thức, mối quan hệ giữa thành phần “cảm xúc” và động cơ cũng được nhiều nghiên cứu chỉ ra, với phần cảm xúc khai thác yếu tố “cảm giác thuộc về”. Môi trường, sự tương tác và cảm giác thuộc về trường học phù hợp với các dự đoán theo lý thuyết mục tiêu và quyền tự quyết định (Ryan & Deci, 2000). Ý thức cộng đồng ảnh hưởng đến ý thức về bản thân và động cơ của các bạn trẻ.
Trong môi trường giáo dục, Becker và Luthar (2002) cho rằng yếu tố quan trọng để nâng cao động cơ bằng cách thông qua việc thúc đẩy cảm giác thân thuộc trong trường học. Sự lạc lõng có thể được khái niệm hóa, không chỉ trong các thuật ngữ quan hệ với các cá nhân khác mà còn trong các thuật ngữ học thuật (tức là không thấy mình liên quan đến nội dung trong bài học hoăc cách trình bày nội dung đó). Ban đầu có nhiều bài báo tranh luận mối quan hệ giữa cảm xúc của sự gắn kết với kết quả học tập và động cơ.