Động cơ và thành tích học tập ngành điều hành chạy tàu - CĐ Đường sắt

Tôi có thể giúp bạn tạo meta tags cho bài viết theo yêu cầu. Dưới đây là kết quả: { "ai_description": "Mối quan hệ giữa động cơ học tập và thành tích học

Trường đại học

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh

Chuyên ngành

Giáo dục học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

117
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về động cơ học tập và thành tích sinh viên ngành điều hành chạy tàu hỏa

Động cơ học tập là yếu tố quan trọng quyết định đến hiệu quả học tập của sinh viên, đặc biệt trong ngành điều hành chạy tàu hỏa yêu cầu kiến thức chuyên môn cao. Tại Trường Cao đẳng Đường sắt – Phân hiệu phía Nam, sinh viên ngành này phải đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe về an toàn vận hành. Nghiên cứu của Hoàng Thị Minh Thao (2018) chỉ ra rằng động cơ học tập chia thành hai nhóm chính: động cơ bên trong (lợi ích cá nhân) và động cơ bên ngoài (áp lực xã hội). Sự cân bằng giữa hai nhóm động cơ này ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập và khả năng ứng dụng kiến thức vào thực tiễn ngành nghề. Bài viết phân tích mối quan hệ giữa động cơ học tập và thành tích học tập nhằm đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo.

1.1. Định nghĩa động cơ học tập trong bối cảnh ngành đường sắt

Động cơ học tập được hiểu là những lý do thúc đẩy sinh viên nỗ lực học tập, bao gồm nhu cầu cá nhân (động cơ bên trong) và yêu cầu từ môi trường (động cơ bên ngoài). Trong ngành điều hành chạy tàu hỏa, động cơ bên trong thường liên quan đến niềm đam mê kỹ thuật, mong muốn thăng tiến nghề nghiệp hoặc nhu cầu cập nhật kiến thức an toàn giao thông. Động cơ bên ngoài bao gồm áp lực từ gia đình, yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp hoặc chính sách đào tạo của nhà trường. Sự kết hợp giữa hai loại động cơ này tạo nên động lực học tập bền vững, giúp sinh viên vượt qua thách thức trong chương trình đào tạo.

1.2. Tầm quan trọng của thành tích học tập trong ngành điều hành chạy tàu hỏa

Thành tích học tập của sinh viên ngành điều hành chạy tàu hỏa không chỉ phản ánh năng lực chuyên môn mà còn quyết định khả năng đảm bảo an toàn vận hành tàu. Theo tiêu chuẩn ngành, sinh viên phải đạt điểm số cao trong các môn học chuyên ngành như kỹ thuật đường sắt, quản lý an toàn giao thông và điều khiển đoàn tàu. Thành tích kém có thể dẫn đến rủi ro tai nạn lao động hoặc giảm uy tín của nhà trường. Do đó, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa động cơ học tập và thành tích học tập là cần thiết để xây dựng chiến lược đào tạo hiệu quả, đáp ứng nhu cầu xã hội và doanh nghiệp.

II. Phân tích thực trạng động cơ học tập của sinh viên ngành điều hành chạy tàu hỏa

Nghiên cứu thực tế tại Trường Cao đẳng Đường sắt – Phân hiệu phía Nam cho thấy đa số sinh viên ngành điều hành chạy tàu hỏa có động cơ học tập bên ngoài chiếm ưu thế (36,84%) so với động cơ bên trong (47,37%). Điều này phản ánh xu hướng học tập chủ yếu do áp lực từ gia đình hoặc yêu cầu tuyển dụng. Bên cạnh đó, tỷ lệ sinh viên có động cơ xã hội đạt được thành tích khá cao (21,05%), cho thấy vai trò quan trọng của yếu tố xã hội trong học tập. Tuy nhiên, sự thiếu hụt động cơ bên trong có thể dẫn đến tình trạng học tập đối phó, ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo. Vấn đề này đòi hỏi nhà trường cần có giải pháp can thiệp kịp thời.

2.1. Động cơ bên trong và ảnh hưởng đến kết quả học tập

Động cơ bên trong xuất phát từ nhu cầu cá nhân như niềm đam mê kỹ thuật, mong muốn phát triển bản thân hoặc nhu cầu cập nhật kiến thức an toàn giao thông. Những sinh viên có động cơ bên trong thường có thái độ học tập tích cực, chủ động tìm hiểu bài giảng và tham gia các hoạt động nghiên cứu. Kết quả khảo sát cho thấy 47,37% sinh viên ngành điều hành chạy tàu hỏa có động cơ bên trong, chiếm tỷ lệ cao nhất so với các nhóm động cơ khác. Điều này chứng tỏ tiềm năng phát triển của sinh viên khi được khuyến khích bởi động lực cá nhân.

2.2. Động cơ bên ngoài và rủi ro học tập đối phó

Động cơ bên ngoài chủ yếu xuất phát từ áp lực xã hội như yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp, kỳ vọng của gia đình hoặc chính sách đào tạo của nhà trường. Tuy nhiên, việc học tập chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu bên ngoài có thể dẫn đến tình trạng học tập đối phó, thiếu sự đầu tư nghiêm túc vào kiến thức chuyên môn. Theo khảo sát, 36,84% sinh viên ngành điều hành chạy tàu hỏa có động cơ bên ngoài, cho thấy nguy cơ thiếu hụt động lực học tập bền vững. Nhà trường cần có biện pháp khuyến khích sinh viên phát triển động cơ bên trong để nâng cao chất lượng đào tạo.

III. Phương pháp nâng cao động cơ học tập cho sinh viên ngành điều hành chạy tàu hỏa

Để cải thiện động cơ học tập của sinh viên ngành điều hành chạy tàu hỏa, nhà trường cần áp dụng đa dạng phương pháp đào tạo kết hợp giữa lý thuyết và thực hành. Việc tổ chức các buổi hội thảo với chuyên gia ngành đường sắt sẽ giúp sinh viên nhận thức rõ vai trò của kiến thức chuyên môn đối với sự nghiệp. Ngoài ra, chương trình đào tạo nên tích hợp các dự án thực tế, tạo cơ hội cho sinh viên áp dụng kiến thức vào tình huống thực tế. Nhà trường cũng cần tăng cường tư vấn tâm lý, giúp sinh viên nhận diện và phát triển động cơ bên trong. Sự kết hợp giữa đào tạo chuyên môn và phát triển cá nhân sẽ nâng cao hiệu quả học tập.

3.1. Giải pháp tăng cường động cơ bên trong

Để phát triển động cơ bên trong, nhà trường cần tạo môi trường học tập khuyến khích sự sáng tạo và khám phá. Các hoạt động ngoại khóa như tham quan nhà máy đường sắt, tham gia hội thi kỹ thuật sẽ giúp sinh viên nhận thức giá trị của kiến thức chuyên môn. Ngoài ra, việc xây dựng hệ thống khen thưởng cho những sinh viên có thành tích xuất sắc sẽ thúc đẩy tinh thần cạnh tranh lành mạnh. Nhà trường cũng nên tổ chức các buổi chia sẻ kinh nghiệm từ cựu sinh viên thành đạt trong ngành điều hành chạy tàu hỏa.

3.2. Chiến lược giảm thiểu động cơ bên ngoài tiêu cực

Động cơ bên ngoài tiêu cực xuất phát từ áp lực không lành mạnh, chẳng hạn như kỳ vọng quá cao từ gia đình hoặc yêu cầu tuyển dụng không phù hợp. Nhà trường cần xây dựng các buổi tư vấn định hướng nghề nghiệp, giúp sinh viên lựa chọn ngành học phù hợp với năng lực và sở thích. Ngoài ra, chương trình đào tạo nên kết hợp giữa học tập và thực hành, giúp sinh viên nhận thấy giá trị thực tế của kiến thức. Sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và doanh nghiệp sẽ giảm thiểu tác động tiêu cực của động cơ bên ngoài.

IV. Kết luận và đề xuất ứng dụng trong đào tạo ngành điều hành chạy tàu hỏa

Nghiên cứu đã chứng minh mối quan hệ mật thiết giữa động cơ học tập và thành tích học tập của sinh viên ngành điều hành chạy tàu hỏa. Kết quả khảo sát cho thấy động cơ bên trong chiếm ưu thế (47,37%) và có tác động tích cực đến kết quả học tập. Tuy nhiên, động cơ bên ngoài vẫn chiếm tỷ lệ đáng kể (36,84%), tiềm ẩn nguy cơ học tập đối phó. Để nâng cao chất lượng đào tạo, nhà trường cần áp dụng đa dạng phương pháp giảng dạy, kết hợp giữa lý thuyết và thực hành. Ngoài ra, việc tăng cường tư vấn tâm lý và định hướng nghề nghiệp sẽ giúp sinh viên phát triển động cơ học tập bền vững, đáp ứng yêu cầu của ngành đường sắt.

4.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu của Hoàng Thị Minh Thao (2018) tại Trường Cao đẳng Đường sắt – Phân hiệu phía Nam đã chỉ ra rằng động cơ học tập có tác động trực tiếp đến thành tích học tập của sinh viên ngành điều hành chạy tàu hỏa. Kết quả khảo sát 19 sinh viên cho thấy động cơ bên trong chiếm 47,37%, động cơ bên ngoài chiếm 36,84%, và động cơ xã hội chiếm 21,05%. Sự kết hợp giữa các loại động cơ này ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu kiến thức và ứng dụng vào thực tiễn ngành nghề.

4.2. Đề xuất giải pháp cải tiến chương trình đào tạo

Để nâng cao động cơ học tập, nhà trường nên xây dựng chương trình đào tạo linh hoạt, kết hợp giữa học tập lý thuyết và thực hành. Việc tổ chức các buổi hội thảo với chuyên gia ngành đường sắt sẽ giúp sinh viên nhận thức rõ vai trò của kiến thức chuyên môn. Ngoài ra, nhà trường cần tăng cường tư vấn tâm lý, giúp sinh viên nhận diện và phát triển động cơ bên trong. Sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và doanh nghiệp sẽ tạo môi trường học tập toàn diện, nâng cao chất lượng đào tạo ngành điều hành chạy tàu hỏa.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

24/05/2026
Luận văn thạc sĩ mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên ngành điều hành chạy tàu hỏa tại trường cao đẳng đường sắt phân hiệu phía nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỘNG CƠ HỌC TẬP VỚI THÀNH TÍCH HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về động cơ học tập và thành tích học tập 1. Trên thế giới Về động cơ học tập Lịch sử nghiên cứu về động cơ học tập có từ rất sớm và đến nay trở thành một lĩnh vực nghiên cứu mạnh cả về lý luận lẫn thực tiễn. Dưới đây là một số tác giả tiêu biểu trên thế giới.

Thorndike (1874 – 1949), người đại diện cho Thuyết hành vi tạo tác, là nhà tâm lý học Động vật Mỹ. Theo ông, ĐCHT là sự kích thích hướng hành vi đạt tới một kết quả. Cho nên các yếu tố của ĐCHT bao gồm yếu tố bên trong mang tính chủ quan và các yếu tố bên ngoài mang tính khách quan [28]. Hull (1884 – 1952) cho rằng, động cơ là cần thiết cho quá trình học tập và là điều cốt lõi cho sự thích nghi có hiệu quả.

Ông nhấn mạnh vai trò sự căng thẳng trong động cơ và cho rằng việc giảm căng thẳng có ý nghĩa củng cố. Theo quan điểm này, các xung năng sơ cấp có cơ sở sinh học được khơi dậy khi sinh vật bị tước đoạt. Những xung năng này hoạt hóa sinh vật, khi được thỏa mãn hoặc giảm thiểu thì sinh vật ngừng hoạt động. Thuyết giảm xung năng mang ý nghĩa cân bằng nội tại vì nó cho rằng một sinh vật bị khơi dậy xung năng là để duy trì thế cân bằng nội tại, một thế cân bằng bên trong các hệ và các quá trình của cơ thể.

Thuyết giảm xung năng cân bằng nội tại này của động cơ và học tập đã có ảnh hưởng cho tới giữa những năm 1950 khi nó bị thách thức bởi các dữ kiện mới [22]. Runbinstein (1902 – 1960) khi phân tích ĐCHT, ông mô tả các loại ĐCHT biểu hiện ra bên ngoài thông qua hứng thú của học sinh. Theo ông, ĐCHT như là mối quan hệ của trẻ đối với cái thúc đẩy trẻ học tập. Tuy nhiên, tác giả mới chỉ dừng lại mô tả các loại ĐCHT trên bình diện chủ quan, mà tác giả chưa chú ý đến mặt khách quan của ĐCHT, cái phản ánh bản chất của ĐCHT [26].

Leonchiev với công trình “Sự phát triển ĐCHT của học sinh”, cho rằng ĐCHT là sự định hướng của trẻ vào việc lĩnh hội tri thức và đạt được điểm số cao, cũng như để cha mẹ, thầy cô giáo và các bạn khen. Cũng trong công trình nghiên cứu của mình, ông chia động cơ thành động cơ “hiểu biết” và động cơ “hành động”. Động cơ “hiểu biết” trong những điều kiện nhất định nào đó sẽ trở thành động cơ “hành động”. Ông cho rằng quá trình học tập của học sinh chỉ có kết quả tốt khi học sinh có thái độ cần thiết đối với quá trình đó.

Vì vậy, theo ông thì việc giáo dục ĐCHT không thể tách rời cuộc sống và hoạt động của học sinh [12]. Leonchiev là người đại diện tiêu biểu cho dòng phái Tâm lý học Mác- xít, đã có những nghiên cứu đầy đủ và rõ ràng về lý luận động cơ của con người. Những kết quả nghiên cứu của ông đã được nhiều nhà Tâm lý học trên thế giới vận dụng và phát triển để làm cơ sở khi nghiên cứu về động cơ của con người. Alekseeva đã nghiên cứu đặc điểm học tập của học sinh lớp 5 và lớp 8, xác định con đường hình thành ĐCHT tích cực cho học sinh.

Ông cho rằng ĐCHT của học sinh chia thành nhóm rất rõ ràng. Những động cơ khác nhau trong đa số trường hợp có liên hệ qua lại với nhau, trong đó có một động cơ là cơ bản, những động cơ kia là thứ yếu [3]. Có thể tổng hợp như sau, những nghiên cứu của các nhà tâm lý học trên thế giới, các tác giả đều cho rằng ĐCHT có vai trò rất lớn trong học tập của người học, đó là sự kích thích, thúc đẩy và định hướng người học vào hoạt động học tập; có nhiều loại động cơ học tập, bao gồm yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong; động cơ được chia thành các nhóm rõ ràng, một động cơ cơ bản và những động cơ còn lại là thứ yếu. 6 Về thành tích học tập Nghiên cứu về TTHT/KQHT của SV, cụ thể là những yếu tố tác động đến KQHT của SV đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm từ rất sớm.

Các nghiên cứu đã chỉ ra ở nhiều khía cạnh, các yếu tố khác nhau tác động đến KQHT của SV. Tác giả Gonzales NA (1996), nghiên cứu đã chỉ ra các mối quan hệ gia đình, bạn bè và khu phố ảnh hưởng đến KQHT của thanh thiếu niên người Mỹ gốc Phi Châu. Nghiên cứu đã kiểm tra ảnh hưởng của các biến trạng thái gia đình (thu nhập gia đình, giáo dục của cha mẹ, cấu trúc gia đình), các biến phụ huynh (hỗ trợ và mức độ kiểm soát của người mẹ), hỗ trợ của bạn bè và yếu tố khu phố trên 120 HS Trường Trung học người Mỹ gốc Phi Châu. Ngoài các tác động chính của các biến này, yếu tố khu phố đã được kiểm tra và cho kết quả là có vai trò tác động đến cha mẹ và sự hỗ trợ của bạn bè.

Các biến trạng thái gia đình không tiên đoán được kết quả học đường của thanh thiếu niên. Sự hỗ trợ của người mẹ ở giai đoạn 1 liên quan đến thanh thiếu niên ở giai đoạn 2. Yếu tố khu phố có liên quan ít hơn, trong khi sự hỗ trợ của bạn bè có mức điểm cao hơn qua các phân tích. Yếu tố khu phố cũng ảnh hưởng thấp đến độ kiểm soát của người mẹ và sự hỗ trợ của bạn bè đối với thanh thiếu niên trong các phân tích [31].

Tác giả Muhamad Daniyal & ctg (2011) tập trung chủ yếu vào những yếu tố về nhân khẩu học, tác giả đưa ra mô hình gồm 8 yếu tố có tác động đến kết quả học tập của sinh viên gồm: Thu nhập gia đình, trình độ của cha, trình độ của mẹ, quy mô gia đình, những động cơ thúc đẩy của cha và mẹ, những hoạt động ngoại khóa, chuẩn mực của giảng viên, sự thích thú đối với môn học. Kết quả nghiên cứu tình huống tại Đại học Islamia ở Pakistan cho thấy hầu hết các nhân tố đều có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy 90%, 95%, 99%. Muhamad Daniyal & ctg sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng có độ tuổi từ 19- 21, từ 22- 25 và từ 25 tuổi trở lên [34Error! Reference source not found. 7 Tác giả Irfan Mushtaq & Shabana Nawaz Khan (2012) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến KQHT của SV, trọng tâm của nghiên cứu là kết quả kiểm tra cao của SV có liên quan với cách tiếp cận của SV đối với truyền thông, phương tiện học tập, sự hướng dẫn thích hợp và áp lực của gia đình.

Nghiên cứu dựa trên hồ sơ SV và dữ liệu thu thập thông qua đánh giá của SV của một nhóm các trường cao đẳng tư nhân [32]. Singh và ctg (2016) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến KQHT của sinh viên; nghiên cứu chỉ ra rằng, cơ sở vật chất, kỹ năng giao tiếp và sự hướng dẫn phù hợp từ cha mẹ có ảnh hưởng mạnh đến KQHT của SV [35]. Nhìn chung, các nghiên cứu đề cập đến mối quan hệ gia đình, bạn bè, khu phố, thu nhập gia đình, trình độ của cha, trình độ của mẹ, quy mô gia đình, những động cơ thúc đẩy của cha và mẹ, những hoạt động ngoại khóa, chuẩn mực của giảng viên, sự thích thú đối với môn học, phương tiện truyền thông, phương tiện học tập, sự hướng dẫn từ cha mẹ, kỹ năng giao tiếp, cơ sở vật chất có ảnh hưởng mạnh đến KQHT của sinh viên. Tại Việt Nam Về động cơ học tập Tác giả Phạm Thị Hồng Thái trong Luận văn Thạc sỹ: “Động cơ học tập của sinh viên ngành Tâm lý học Trường Đại học Văn Hiến” đã chỉ ra rằng có sự tồn tại song song giữa những động cơ học tập đúng đắn với những động cơ không đúng đắn ở sinh viên, do đó cần phải có những biện pháp giáo dục động cơ để sinh viên hoàn thành động cơ học tập của mình [24, 52].

Tác giả Phạm Văn Sỹ trong Luận văn Thạc sỹ “Động cơ học tập của sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh” đã đưa ra kết luận: động cơ học tập của sinh viên Trường Nhân văn được thúc đẩy bởi nhiều loại động cơ khác nhau trong đó nổi bật là động cơ hoàn thiện tri thức và yếu nhất là động cơ xã hội. Đa số sinh viên đều có động cơ học tập đúng đắn thể hiện qua mục đích, thái độ và hành vi trong học tập [22, 81]. 8 Tác giả Trần Nguyễn Hương Giang trong luận văn Thạc sỹ: “Những yếu tố ảnh hưởng đến động cơ học tập của học sinh trung học Marie Curie, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh” đã đưa ra kết luận: trong quá trình tiến hành hoạt động học tập, động cơ học tập sẽ được hình thành theo hai hướng là động cơ xuất phát từ hoạt động học tập và từ mối quan hệ của chủ thể với môi trường xung quanh. Mặt khác, động cơ học tập của học sinh được thúc đẩy bởi một hệ thống động cơ, trong đó có những động cơ đóng vai trò chủ yếu và có những động cơ đóng vai trò thứ yếu.

Nhóm động cơ lĩnh hội tri thức luôn đóng vai trò quan trọng trong quá trình học tập của học sinh [7, 83]. Luận án Tiến sỹ Tâm lý học của Dương Thị Kim Oanh, tác giả đề cập đến một số hướng tiếp cận trong nghiên cứu động cơ học tập như phân tâm học, hành vi, nhân văn, nhận thức, học tập xã hội và văn hóa xã hội. Tác giả khẳng định việc tìm hiểu các hướng tiếp cận trong nghiên cứu về động cơ học tập có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc xác định rõ bản chất, phân loại, biểu hiện và các nhân tố tác động đến động cơ học tập của người học, từ đó có cơ sở lý luận vững chắc lượng hóa các khía cạnh nội dung (cái mà con người muốn vươn tới, muốn đạt tới) và khía cạnh lực (phản ánh độ mạnh của động cơ) trong học tập của người học, “Tác giả chọn cách phân loại động cơ học tập của F.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ