CHƯƠNG 1: VỊ TRÍ CỦA LƯU QUANG VŨ TRONG NỀN KỊCH VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 1. Vài nét khái quát về lịch sử phát triển của Sân khấu Cách mạng Việt Nam 1945-1975 Trong cuộc sống, khi xem xét bất kì một sự vật, hiện tượng nào, chúng ta phải nhìn nhận chúng trong bối cảnh lịch sử xã hội đương thời và đánh giá đúng mức vai trò của các tác nhân lịch sử đối với sự phát triển của các sự vật, hiện tượng ấy. Văn học nghệ thuật là bức tranh phản ánh cuộc sống muôn màu, muôn vẻ - là tiếng nói cất lên từ sâu thẳm trái tim người nghệ sĩ - là cây đàn muôn điệu đang ngân lên những cung bậc thanh âm trầm bổng để ca ngợi cuộc đời. Không nằm ngoài quy luật tồn tại và phát triển của các sự vật, hiện tượng, văn học cũng chịu sự chi phối và tác động mạnh mẽ của các tác nhân lịch sử.
Giữa chúng luôn tồn tại một sợi dây liên kết, móc xích và tác động qua lại lẫn nhau để tồn tại, thúc đẩy nhau cùng phát triển.Và những câu chuyện về lịch sử sân khấu cách mạng Việt Nam thời kì 1945-1975 sẽ giúp chúng ta có được cái nhìn xuyên suốt hơn về tiến trình phát triển của lịch sử sân khấu cách mạng thời kì này. Trong cuộc sống, chắc ai trong mỗi chúng ta cũng hơn một lần nhắc đến ngôn từ “đóng kịch” hay “kịch tính”. Vậy thế nào là kịch? Theo Từ điển Văn học, Thuật ngữ Kịch được hiểu theo hai cấp độ: Ở cấp độ loại hình, kịch là một trong ba phương thức cơ bản của Văn học (kịch, tự sự, trữ tình) kịch vừa thuộc sân khấu vừa thuộc văn học. Nó vừa để diễn tả là chủ yếu, lại vừa để đọc.
Vì vậy, kịch bản chính là phương diện văn học của kịch. Song nói đến kịch là phải nói đến sự biểu diễn trên sân khấu của các diễn viên bằng hành động, cử chỉ, điệu bộ và bằng lời nói (riêng kịch câm thì không diễn tả bằng lời). Ở cấp độ loại thể, thuật ngữ kịch được dùng để chỉ một thể loại văn học - sân khấu có vị trí tương đương với bi kịch và hài kịch. Với ý nghĩa này, kịch cũng còn gọi là chính kịch [19;142-143].
14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhìn lại những bước đi của lịch sử những năm đầu thế kỉ XX, chúng ta nhận thấy những biến động sâu sắc của lịch sử trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa - xã hội. Lúc này, trên bình diện văn hóa đang tồn tại “một bức tranh văn hóa mang màu sắc hỗn dung” với các cuộc tranh giành, xâm lấn lẫn nhau giữa sân khấu nhà hát và sân khấu sân đình.“Như một sự hợp lẽ lịch sử những yếu tố mới phù hợp với xu hướng tiến bộ dần dần được thừa nhận cùng với sự rút lui âm thầm của cái bảo thủ, lạc hậu, trái với quy luật của xã hội” [65;87]. Do vậy cũng là điều dễ hiểu và nên sớm chấp nhận một sự thật: kịch đại diện cho cái mới, cho lực lượng mới, đã xuất hiện một cách đường hoàng và tự tin với sức mạnh của riêng nó. Trên đây là bức tranh khái quát, phản ánh rõ những bước đi chập chững của một nền Sân khấu non trẻ trước những năm 1945.
Song cũng phải công nhận, hệ thống lý luận sân khấu cách mạng nước ta giai đoạn 1945-1975 còn phát triển chậm chạp và phương pháp nghiên cứu còn thiếu tính hợp lí. Đúng như nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Thành đã chỉ ra: “Nhìn chung các công trình lịch sử sân khấu mang tính sơ thảo và dành riêng cho mỗi kịch chủng gặp nhau ở chỗ đều quan sát diễn biến của sự phát triển từng bộ môn sân khấu và trình bày nó, riêng biệt tách rời với hoạt động của các nền sân khấu cũng như không vạch ra những liên hệ, tương quan tác động” [5;99]. Muốn giải cứu sự bế tắc, chậm chạp ấy cần sự phối hợp liên nghành, khai thác được những mặt mạnh của sân khấu, lấy nó làm tiền đề cho sự “tỏa sáng”. Trải qua chặng đường lịch sử 30 năm (1945-1975) chìm trong khói lửa, bom đạn kẻ thù, chúng ta đã tạo nên một trang sử hào hùng của dân tộc và kịch nói cũng tạo dựng cho mình một trang sử riêng.
Mặc dù ở nước ta, kịch nói ra đời muộn hơn so với các loại hình khác nhưng những thành tựu mà nó đạt được lại rất nhanh chóng và đáng kể. Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, kịch nói đã làm tròn bổn phận, trách nhiệm của lực lượng cách mạng tiên phong, góp phần thúc đẩy những mũi tiến công sắc bén, vượt qua chướng ngại vật và về đích vinh quang. Hơn nữa, từ sau 1945, đã hình thành nền kịch nói thực sự dân chủ 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và mang tính chuyên nghiệp cao. Tuy nhiên, vẫn còn những thiếu sót và hạn chế nhất định như: chưa có nhiều nhân vật mang tính chất điển hình, chưa thực đi sâu vào mặt trái của cuộc chiến đấu.dẫu sao, đó cũng chỉ là hạn chế tất yếu của một thời kì lịch sử.
Rất đáng mừng là những hạn chế ấy đã được khắc phục khi cuộc chiến đi qua, khi mỗi người dân - người nghệ sĩ có đủ thời gian cùng nhìn nhận và suy ngẫm. Từng bước đi chắc chắn của kịch nói đã góp phần tô đậm thêm bản sắc, giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của cha ông để lại. Ba mươi năm - một chặng đường, những đóng góp đáng ghi nhận của kịch nói đã góp phần tạo dựng một nền văn hóa Việt Nam phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc. Một vấn đề lý thú nảy sinh: Tại sao kịch phát triển nở rộ ở miền Bắc nhưng lại trì trệ ở miền Nam? Có phải chăng đó là hệ quả tất yếu mang tính chất đặc trưng vùng miền của kịch? 1.
Lưu Quang Vũ - Tài năng và lao động nghệ thuật Trong khuôn khổ của phạm vi nghiên cứu, với mong muốn tìm hiểu và mổ xẻ vấn đề cả ở chiều rộng lẫn bề sâu, chúng tôi sẽ làm sáng tỏ “tài năng” và đóng góp to lớn của Lưu Quang Vũ với nền kịch nói nước nhà.Văn học nghệ thuật trong mỗi thời kì thường xuất hiện những gương mặt mà tên tuổi và tác phẩm của họ đã thu hút được sự chú ý của người đọc, người xem trong một khoảng thời gian nhất định. Sự nhạy cảm, thức nhận kịp thời khiến họ trở thành gương mặt tiêu biểu cho cả một giai đoạn. Trong quy luật tồn tại của tự nhiên và xã hội, những sự vật, hiện tượng mới luôn nảy sinh và làm mới chính cuộc sống này. Đối với văn học nghệ thuật nói riêng, sự thăng hoa và dấu ấn của người nghệ sĩ ở mỗi giai đoạn lịch sử cũng có thể được coi như một “hiện tượng”.
Tuy nhiên, xét về mặt bản chất của các hiện tượng là khác nhau, bởi vậy sự tồn tại của hiện tượng trong lòng công chúng cũng không giống nhau. Nói đến hiện tượng là phải tính đến yếu tố thời gian, nghĩa là không thể phủ nhận quá trình khai sinh, phát triển, khẳng định vị trí của mình theo cách riêng hoặc có thể là biến mất không để lại dấu vết. Muốn khẳng định giá trị bền vững 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của “hiện tượng” nhất thiết phải được kiểm nghiệm bằng một phép thử “thời gian”- cũng đồng nghĩa với cuộc sống, thời gian được duy trì, kéo dài. Mọi sự so sánh chỉ mang tính chất tương đối nhưng có thể ví giá trị đích thực của “hiện tượng” với hình ảnh “tảng băng trôi”(mà theo Hemmingguây chỉ có 1 phần nổi và 7 phần chìm).
Trong một thời gian đủ độ khi đã vượt qua giới hạn lâm thời của cái gọi là “hiện tượng”, thì hiện tượng ấy không còn mang ý nghĩa ban đầu của giai đoạn thử thách mà bản chất của hiện tượng sẽ được chuyển giao sang một giai đoạn khác - tức phần chìm của tảng băng. Dư âm, tên tuổi của những “hiện tượng” không chỉ là tiếng hò reo tức thời mà ăn sâu vào tâm trí, trái tim, niềm say mê, sự ngưỡng mộ của đông đảo công chúng. Quá trình “vượt ngưỡng” của các hiện tượng diễn ra không đơn giản, không thể chỉ dựa vào yếu tố may mắn mà ẩn sau đó phải là sự bùng nổ, phát tiết của tài năng thật sự. Tính bền vững và giá trị đích thực của nghệ thuật khi đã trải qua thử thách và độ lùi thời gian nhất định sẽ được kiểm chứng và công nhận.
Cũng giống như những “ngôi sao rơi rớt trên bầu trời”, số rụng đi thì nhiều mà số trụ được lại vô cùng ít ỏi. Vì vậy,“trong nghệ thuật chúng ta từng chứng kiến bao nhiêu người tài hoa phát lộ rất rõ ràng nhưng không mấy khi kết đọng thành tác phẩm”. Trong bài viết Tác phẩm lớn tại sao chưa? (đăng trên Báo văn nghệ số 51 ngày 23/2/2006), nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn cũng chỉ ra: "Không thiếu những cây bút sau màn trình làng đầy ấn tượng, hứa hẹn nhiều triển vọng nào đấy, nhưng rồi tài hoa ban đầu không cường tráng lên để thành tài năng, trái lại cứ sa sút mai một dần. Những cái ra sau chỉ là sự pha loãng của cái ra trước, thậm chí loãng đến mức khó tin.
Có người bi quan đã ngờ vực: không khéo cái tạng chính của người viết ở ta chỉ là “nhà văn của cái đầu tay”[45]. Tác giả tiếp tục chỉ ra nguyên nhân dẫn đến sự sa sút phong độ của người nghệ sĩ sau những sáng tác đầu tay là do “vốn văn hóa, vốn sống và những kĩ năng sáng tạo” không được nuôi dưỡng và bồi đắp thường xuyên, nên bước chân sau cứ dẫm lại bước chân của người đi trước. Trong khi bản chất của sự sáng tạo không cần “những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho” mà đòi hỏi ở người làm nghệ thuật khả năng sáng tạo đích thực. Nhà phê bình cũng 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nêu lên quan điểm của mình về sự ra đời của một tác phẩm lớn, để minh chứng cho vị trí của một tài năng đích thực.
Tin hay không là tùy vào độc giả: “Để có tác phẩm lớn còn một yếu tố bất khả tri, do đó, cũng bất khả luận: thiên định, giời cho”[45]. Khi soi chiếu vào trường hợp của Lưu Quang Vũ, chúng ta thấy, ông là một hiện tượng đích thực của Sân khấu Việt Nam những năm 80 của thế kỉ XX. Nếu không ra đi quá vội vàng khi tài năng còn đang nở rộ thì sự nghiệp và tên tuổi của kịch tác gia này chắc còn tiến xa hơn nữa.