Chương 1 KHÁI QUAT CHUNG VE LY HON 1. MOT SO KHAI NIEM 1. Khái niệm ly hôn Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, ly hôn là một mặt của quan hệ hôn nhân, là mặt trái, bất thường nhưng không thể thiếu của quan hệ hôn nhân, khi quan hệ hôn nhân không thé tiếp tục. “7 do ly hôn tuyệt không có nghĩa làm tan rã những quan hệ gia đình mà ngược lại nó củng cô những moi liên hệ đó trên cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh” [31,tr 355].
Pháp luật không bắt buộc nam nữ kết hôn với nhau khi giữa họ không có tình yêu thì cũng không thé bắt buộc ho phải sống chung với nhau khi giữa họ không còn sự quan tâm, chăm sóc cho nhau. Ly hôn chính là giải pháp giúp người vợ, người chồng giải thoát được đau khổ, bạo lực, giúp họ tiếp tục sống cho chính mình và có cơ hội tìm được người vợ, người chồng khác, vì bản chất của ly hôn “chi là việc xác nhận một sự kién: cuộc sống hôn nhán này là cuộc sống hôn nhân đã chết, sự tôn tại của nó chỉ là bê ngoài và lừa dối. Đương nhiên, không phải sự tùy tiện của nhà lập pháp, cũng không phải sự tùy tiện của những cá nhân, mà chỉ bản chất của sự kiện mới quyết định được cuộc hôn nhân đã chết hoặc chưa chết, bởi vì, như mọi người đã biết, việc xác nhận sự kiện chết tùy thuộc vào thực chất của vấn dé, chứ không phải vào nguyện vọng của những bên hữu quan. Nhà lập pháp chỉ có thể xác định những điều kiện trong đó hôn nhân được phép tan vỡ, nghĩa là trong đó về thực chất hôn nhân tự nó bị phá vỡ roi.
Việc Tòa án cho phép phá bỏ hôn nhân chỉ có thể là việc ghi biên bản sự tan rã bên trong của nó” [14. Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, Điều 89 - Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định: “1. Tòa án xem xét yêu câu ly hôn, nếu xét thất tình trang tram trọng, đời sống chung không thể kéo dài, muc đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án quyết định cho ly hôn. Trong trường hop vợ hoặc chong của người bị Tòa án tuyên bố mat tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn”.
6 Đứng trên quan điểm tiến bộ của chủ nghĩa Mác- Lê nin, Khoản 8- Điều 8 - Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Ly hôn là việc cham dứt quan hệ hôn nhân do Toa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cẩu của vợ hoặc chong hoặc cua cả hai vợ chong”. Trong khoa học pháp lý nói chung và khoa học Luật Hôn nhân va gia đình nói riêng, việc đưa ra khái niệm đầy đủ về ly hôn có ý nghĩa quan trọng, phản ánh quan điểm chung nhất của Nhà nước ta về ly hôn, tạo cơ sở lý luận cho việc xác định bản chất pháp ly cua ly hôn, xác định nội dung, phạm vi điều chỉnh của các quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình về vấn đề ly hôn và các van đề khác phát sinh từ ly hôn. Theo từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp thì ly hôn được hiểu la: “Cham dirt quan hệ vợ chong do Toa an nhán dan công nhận hodc quyết định theo yêu cẩu của vợ hoặc chong hoặc ca hai vợ chồng ”[33, tr 460]. Đây là cách giải thích được sử dụng nhiều trong công tác nghiên cứu và giảng dạy khoa học pháp luật và giải thích cho các đương sự có liên quan trong thực tiễn giải quyết các vụ án ly hôn.
Tại dự thảo sửa đổi, bố sung một số điều Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, bản dự thảo ngày 16/4/2014 (khoản 14 - Điều 2a) quy định “Ly hôn là việc cham dứt quan hệ vợ chông theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa an’. Khái niệm ly hôn tại từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp va dự thảo sửa đổi, b6 sung một số điều Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có tính chính xác va cụ thé hơn, đó chính là việc “cham dit quan hệ vợ chong”. Căn cứ vào các quy định về ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và trong dự thảo Luật sửa đôi, bố sung một số điều Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, dựa vào đặc điểm của ly hôn, có thể đưa ra khái niệm ly hôn như sau: “Ly hôn là việc cham dứt quan hệ vợ chong trước pháp luật theo yêu cẩu của vợ, chong và dua trên các căn cứ luật định ””. Quan điểm về ly hôn Ly hôn là mặt trái của quan hệ hôn nhân, là sự tan vỡ hạnh phúc gia đình, ở môi giai đoạn lịch sử, ở môi quôc gia, nên văn hóa khác nhau lại có cái 7 nhìn khác nhau về ly hôn.
Tổng hợp các quan điểm khác nhau về ly hôn có thể phân chia thành hai loại, cụ thể: Cam ly hôn: Hôn nhân được xác lập và được duy trì chỉ nhờ vào sự ưng thuận lúc ban đầu (lúc kết hôn), cũng giống như sự ưng thuận khi giao kết hợp đồng: một khi đã ưng thuận kết hôn, người kết hôn không thê thay đôi ý chí, nghĩa là phải chấp nhận cuộc sống chung cho đến cuối đời (cũng như người giao kết hợp đồng phải thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng, không thé đơn phương rút khỏi quan hệ kết ước, dù có thể không còn muốn duy trì quan hệ đó nữa). Cụ thể hơn có nghĩa kết hôn thì được, nhưng ly hôn thì không được. Quan niệm này được chấp nhận trong rất nhiều hệ thống luật nguyên sơ và được coi là một trong những quan niệm nên tang của luật giáo hội về gia đình. Không ít nước Châu Âu chỉ mới từ bỏ quan niệm này cách đây không lâu: Ở Ý từ năm 1975, ở Tây Ban Nha từ năm 1982.
Việc duy trì quan niệm nay trong luật cận đại và đương đại của các nước chủ yêu vi lý do tôn giáo. Theo quan điểm của tôn giáo, trong đời song hôn nhân, sự liên kết vợ chồng không phải chỉ do quyết tâm của họ mà còn là kết quả của ơn Chúa“ Điều gì Thiên Chúa đã kết hop, thì loài người không được phân ly” (16, tr 23], “Hôn nhân đã ký kết và hoàn hợp thì không thể bị tháo gỡ bởi bat cứ quyển lực nhân loại nào, bat cứ lý do gì, ngoại trừ cái chết” [16, tr 104]. Tự do ly hôn: Cac nước theo quan điểm này cho rằng, hôn nhân không thể được duy trì, một khi vợ hoặc chồng hoặc cả hai không còn cảm thay duoc thôi thúc bởi ý muốn chung sống. Mỗi người phải có quyền tự do cham dứt quan hệ hôn nhân, như đã có quyền tự do xác lập quan hệ đó.
Nếu cả vợ và chồng đều đồng ý ly hôn thì càng tốt; nêu không, mỗi người có quyền ly hôn chỉ bằng quyết định đơn phương của mình. Quyền tự do ly hôn được thiết lập trong luật La Mã thời kỳ cuối. Trong luật đương đại của nhiều nước theo Common law hoặc của các nước Bắc Âu, ly hôn theo ý chí đơn phương được thừa nhận dưới hình thức “Ly hôn do không hợp tinh tình” (divorce pour incompatibilité d’humeur): chỉ cần chứng minh rằng giữa vợ và chồng có sự khác biệt về tính tình và sự khác biệt đó là nguyên nhân của những xung đột gay gắt giữa hai người khiến cho cuộc sống chung không thể chịu đựng được, vợ hoặc chồng có thé xin ly hôn và thẩm phán phải đáp ứng thuận lợi đối với yêu cầu ly hôn đó. 8 Mô hình pháp luật thừa nhận tự do ly hôn còn tồn tại hình thức tự do ly hôn dưới sự kiểm soát của Nhà nước.
Đây là hình thức được hình thành từ quan điểm cho rằng ly hôn là quyền tự do của cá nhân nhưng quyền yêu cầu ly hôn thì vẫn nam trong quyền dân sự nên phải chịu sự kiểm soát của pháp luật. Việc ly hôn của vợ chồng chỉ được Tòa án chấp nhận trong trường hợp được pháp luật quy định. Yêu cầu ly hôn có thể do vợ hoặc chồng hoặc cả vợ và chồng đưa ra. Tham phán, về phan mình, có quyền quyết định cho phép hay không cho phép ly hôn trên cơ sở đánh giá mức độ chính đáng, hợp lý, hợp tình của yêu cầu ly hôn; nếu như yêu cầu ly hôn trùng với trường hợp được luật dự kiến, Thâm phán có thể bác đơn xin ly hôn, một khi xét thấy lý do ly hôn không vững chắc hoặc việc ly hôn có thé ảnh hưởng bat lợi nghiêm trọng đối với cuộc sông sau ly hôn của một trong hai đương sự (hoặc cả hai) hoặc đối với tương lai của con cái, so với việc tiếp tục quan hệ hôn nhân.
Hệ thống ly hôn tự do dưới sự kiểm soát của Nhà nước cho phép cơ quan Nhà nước có thâm quyền can thiệp vào sự hình thành suy nghĩ của vợ, chồng về van đề ly hôn, đồng thời vẫn tôn trọng ý chí của vợ, chồng hoặc của cả hai về việc duy trì hay không duy trì cuộc sống chung. Đây là quan điểm tiễn bộ và phù hợp với sự phát triển chung của xã hội nên được nhiều nước trên thế giới áp dụng, trong đó có Việt Nam. Theo đó, Nhà nước công nhận quyền tự do ly hôn chính đáng của vo chong, dựa trên ý chi tự nguyện của vợ chồng, Nhà nước không thê bằng pháp luật cưỡng ép nam nữ kết hôn thì cũng không bắt buộc vợ chồng phải ly hôn. Quyên ly hôn là quyền tự do tuyệt đối nhưng quyền yêu cau ly hôn không phải là quyền tự do tuyệt đối mà phải đưới sự quản lý của Nhà nước, quan hệ vợ chồng chỉ có thé chấm dứt băng các phán quyết có hiệu lực pháp luật của Tòa án là bản án ly hôn hoặc quyết định công nhận thuận tình ly hôn.
Khái niệm quyền ly hôn Quyền kết hôn và quyền ly hôn là quyền tự nhiên vốn có của mỗi con người, là một trong những quyên cơ bản của quyền con người được Nhà nước và pháp luật bảo vệ. Khi hôn nhân không đạt được mục đích mà cả hai vợ chồng hoặc một bên vợ hoặc chồng hướng đến thì họ có quyền ly hôn, đây là cách giải quyết mang tính tích cực và văn minh. Trong pháp luật dân sự, quyền ly hôn là quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân không thể chuyền giao cũng như không thé ủy quyền cho người khác thực hiện thay.