CHƯƠNG I MOT SO VAN DE LÝ LUẬN CƠ BẢN VE ĐỘC QUYEN VA PHAP LUAT KIEM SOÁT ĐỘC QUYEN 1. Một số vấn đề lý luận cơ ban về độc quyền. Cạnh tranh và xu hướng độc quyền hoá của cạnh tranh trong nên kính tế thị trường. Cho đến nay, về mặt kinh tế, đa số các quốc gia trên thế giới đều đi theo con đường kinh tế thị trường.
Thừa nhận nền kinh tế thị trường cũng đồng nghĩa với việc thừa nhận các quy luật của nó, trong đó có quy luật cạnh tranh vốn là một trong những quy luật cơ bản nhất và chi phối mạnh mẽ nhất mọi hoạt động của nền kinh tế thị trường. Nhận thức cho được quy luật cạnh tranh, những vấn đề liên quan đến cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường là vô cùng cần thiết đối với Nhà nước, chủ thể có nhiệm vụ điều tiết nền kinh tế, và đối với các thành phần trong nền kinh tế thị trường với tư cách là các chủ thể trực tiếp tham gia vào các quá trình cạnh tranh. Về mặt thuật ngữ, cạnh tranh được hiểu là sự ganh dua để giành uu thế vềphía mình trong một lĩnh vực nào đó. Theo cuốn Từ điển kinh doanh xuất bản năm 1992 ở Anh, cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa như sau: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình” [14, Tr.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, cạnh tranh là “hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung - cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thu và thị trường có lợi nhất. 357] Dưới góc độ kinh tế, cạnh tranh được hiểu là sự chạy đua hay ganh đua của các thành viên của một thị trường hàng hoá, sản phẩm cụ thể nhằm mục đích lôi kéo về phía mình ngày càng nhiều khách hàng, thị trường và thị phần của một thị trường cụ thể. Một khái niệm quan trọng cần được xác định trong khi nghiên cứu, xây dựng và thực thi pháp luật cạnh tranh là khái niệm ‘Ay /rường liên quan. Khái niệm thị trường liên quan, là khái niệm quan trọng vì cạnh tranh chỉ 6 diễn ra trên những thị trường cụ thể, đây cũng là cơ sở để xác định thị phần và các yếu tố quan trọng khác trong quá trình nghiên cứu về cạnh tranh, độc quyền và pháp luật cạnh tranh.
Một cách khái quát, thị trường liên quan là nơi mà cạnh tranh diễn ra. Có thể hiểu thị trường liên quan là một thị trường được xác định bởi các yếu tố: sản phẩm (hàng hoá, dịch vụ) và khu vực địa lý của sản phẩm. Về yếu tố sản phẩm, đây là một tiêu chí quan trọng cho việc xác định thị trường liên quan. Về lý luận cũng như kinh nghiệm của các nước có truyền thống về luật cạnh tranh, để xác định thị trường liên quan, người ta phải xác định cho được các hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau một cách hợp lý hay không.
Tuy nhiên, để xác định cho được khả năng thay thế cho nhau một cách hợp lý giữa các hàng hóa hay dịch vụ cụ thể không phải là điều đơn giản. Thông thường, để làm được điều này, người ta căn cứ vào tổng thể nhiều tiêu chí như đặc điểm của sản phẩm, mục đích sử dụng của người tiêu dùng, chi phí, giá thành sản phẩm. trong đó, các nước khác nhau nhấn mạnh đến những tiêu chí khác nhau. Chẳng hạn, Hoa Kỳ nhấn mạnh đến 3 yếu tố là: các tính toán về chi phí dự đoán để thay thế sản phẩm; ý kiến đánh giá của các chuyên gia kinh tế; dữ liệu từ nghiên cứu thị trường.
Trong khi đó, CHLB Đức thường tham khảo ý kiến của người tiêu dùng mà xác định sản phẩm có thể thay thế được chức năng của nhau hay không [16, Tr. Một yếu tố quan trọng khác để xác định thị trường liên quan là khu vực địa lý. Đó là giới hạn không gian mà các hành vi cạnh tranh có tác động đáng kể đến các chủ thể tham gia cạnh tranh. Thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể mà trên đó hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế được cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và khu vực địa lý này phải có sự khác biệt đáng kể với khu vực địa lý lân cận.
Ví dụ, khi Tổng công ty bưu chính viễn thông yêu cầu các doanh nghiệp thành viên thống nhất mức cước điện thoại di động tối thiểu thì thỏa thuận khống chế giá của các doanh nghiệp này chỉ có tác động trên thị trường Việt Nam ; khi Hiệp hội taxi Ha Nội thỏa thuận khống chế giá, thỏa thuận sử dụng loại xe giữa các doanh nghiệp thành viên thì các thỏa thuận này chỉ có hiệu lực trên thị trường Hà Nội mà không ảnh hưởng đáng kể đến thị trường của các khu vực địa lý khác. 7 Cạnh tranh là hiện tượng gắn liền với kinh tế thị trường. Với tư cách là động lực phát triển nội tại của nền kinh tế, cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại dưới những tiền đề kinh tế và pháp lý nhất định mà những tiền đề chỉ có thể có trong điều kiện của nền kinh tế thị trường. Về phương diện kinh tế, cạnh tranh được hình thành trên cơ sở tiền đề là: có sự tham gia của các thành viên thương trường, có sự chạy đua vì mục đích kinh tế trên cơ sở mâu thuẫn về lợi ích giữa các thành viên đó và chúng đều diễn ra trên một thị trường hàng hoá cụ thể.
Xét về phương diện pháp lý, cạnh tranh chỉ có thể diễn ra trong điều kiện pháp luật thừa nhận và bảo hộ tính đa dạng của các loại hình sở hữu, khi tự do thương mại và theo đó là tự do kinh doanh, tự do khế ước và quyền tự chủ của các cá nhân được hình thành và đảm bảo. Cạnh tranh cũng chỉ diễn ra khi không có bất kì một quy định hay hành vi nào ngăn can sự nhập cuộc của các doanh nghiệp tiém năng [17, Tr. Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là động lực phát triển kinh tế. Nó tác động đến moi hành vi của các chủ thể tham gia thương trường, tác động đến lợi ích của người tiêu dùng, tác động đến sự phát triển khoa học công nghệ cũng như toàn bộ nên sản xuất.
Để có thể thấy được tác động của cạnh tranh đối với nền kinh tế thị trường, chúng ta cũng cần xem xét cạnh tranh trong mối liên hệ với hợp tác, một khái niệm dường như đối nghĩa với cạnh tranh, triệt tiêu cạnh tranh. Cạnh tranh với tính cách là quy luật khách quan của kinh tế thị trường luôn thôi thúc các chủ thể kinh doanh không ngừng tranh đua với nhau nhằm thu hút ngày càng nhiều thị phần và khách hàng về phía mình. Để đạt được mục đích đó, các chủ thể kinh doanh phải tích cực cải tiến kỹ thuật, ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, đổi mới phương thức quản lý kinh doanh, tìm mọi cách nâng cao chất lượng và giảm giá thành sản phẩm. Như vậy, trong cơ chế thị trường, chỉ những doanh nghiệp cạnh tranh hiệu quả mới có thể tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp không chịu được sức ép của cạnh tranh sẽ phải thu hẹp sản xuất và dần rút khỏi thị trường.
Nói cách khác, cạnh tranh làm cho nền kinh tế luôn có khả năng cơ cấu lại một cách năng động. Một lợi ích to lớn khác của cạnh tranh là cạnh tranh thúc đẩy sự 8 phân bổ hiệu quả các nguồn lực khan hiếm (vốn, nguyên liệu, nhiên liệu, sức lao động, tài sản trí tuệ, công nghệ. Điều này thể hiện trong quá trình cạnh tranh là các nguồn lực khan hiếm chỉ tìm đến với những doanh nghiệp cạnh tranh hiệu quả trên nguyên tắc thỏa thuận của cơ chế thị trường (trong cơ chế thị trường, việc phân bổ các nguồn lực dựa trên cơ sở ưng thuận, và do vậy, nguồn lực sẽ tìm đến với doanh nghiệp nào có khả năng trả giá cao nhất — khác với trong cơ chế kinh tế kế hoạch hóa mang tính mệnh lệnh, việc phân bổ các nguồn lực khan hiếm dựa trên cơ sở mệnh lệnh, và do vậy có nhiều khả năng gây lãng phí trong việc sử dụng nguồn lực). Trên cơ sở các lợi ích to lớn của cạnh tranh nói trên, các sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ và ngày càng được cải tiến về công nghệ, kỹ thuật sẽ được cung ứng cho người tiêu dùng và xã hội.
Như vậy, xã hội và người tiêu dùng sẽ được lợi từ cạnh tranh trong nền kinh tế. Mặt khác, lợi nhuận và sự sống còn cũng có thể thúc đẩy các chủ thể kinh doanh thực hiện các thủ pháp cạnh tranh gian dối, lừa đảo đi ngược lại các nguyên tắc xã hội, tập quán và truyền thống kinh doanh lành mạnh, xâm phạm lợi ích của các chủ thể kinh doanh khác, lợi ích của người tiêu dùng, gây lãng phí của cải và các nguồn lực xã hội. Đây chính là hiện tượng mà pháp luật cần ngăn cản. Cùng với mục đích tối đa hoá lợi nhuận của các doanh nghiệp, cạnh tranh còn có tác dụng đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung tư bản diễn ra không đều ở các ngành, lĩnh vực khác nhau, tạo ra tiền đề vật chất cho sự hình thành các doanh nghiệp có khả năng khống chế thị trường, tiến tới độc quyền ở thị trường đó.
Các doanh nghiệp luôn tìm mọi cách phát triển tiểm lực cạnh tranh của mình trên thương trường, có thể là phát triển tiềm lực tự có hoặc liên kết cùng với các đối thủ cạnh tranh khác để có thể vô hiệu hóa các đối thủ cạnh tranh khác, khống chế thị trường. Có nhiều hình thức liên kết ở các mức độ khác nhau, các doanh nghiệp hoặc thoả thuận với nhau nhằm ấn định giá mua bán hàng hoá, chủng loại, sản lượng cung ứng hàng hoá, dịch vụ, trình độ công nghệ, phân chia thị trường. hoặc tiến hành sáp nhập, hợp nhất để hình thành một doanh nghiệp mới có thị phần lớn hơn. Khi đã ở vị trí độc quyền, doanh nghiệp độc quyền sẽ dễ dàng loại 9 bỏ các đối thủ cạnh tranh khác để duy trì vị trí độc tôn của mình, tự ý tăng giá bán hàng hoá, dịch vụ, lũng đoạn thị trường, thu lợi nhuận độc quyền.