Chương 1: Những van dé chung về bảo vệ quyền con người bằng các quy định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam. Chương 2: Sự thé hiện nội dung bảo vệ quyền con người bang các quy định về hình phạt trong pháp luật hình sự Việt Nam và thực tiễn thi hành. Chương 3: Hoan thiện Bộ luật hình sự Việt Nam về hình phạt theo hướng tang cường bảo vệ quyền con người và các giải pháp bảo đảm thực hiện. Chương | NHỮNG VAN ĐÈ CHUNG BAO VỆ QUYEN CON NGƯỜI BANG CÁC QUY ĐỊNH VE HÌNH PHAT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.
KHÁI QUÁT CHUNG VE QUYEN CON NGƯỜI VÀ KHÁI NIỆM HÌNH PHẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm quyền con người Quyền con người là phạm trù mang tính lịch sử, là đặc trưng tự nhiên vốn có cần được tôn trọng và không thê bị tước đoạt được bảo vệ trên cơ sở pháp luật các quốc gia thành viên Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế. Qua thống kê trong một tài liệu của Liên Hợp quốc, có gần 50 định nghĩa về quyền con người đã được công bố. Ý thức về tôn trọng quyền con người và việc bảo vệ nhân quyên là một quá trình lịch sử lâu dài, liên tục và găn với lịch sử phát triển của loài người, cũng như sự nghiệp đấu tranh giải phóng con người qua các hình thái kinh tế - xã hội, các giai đoạn đấu tranh giai cap khác nhau, qua đó quyền con người dan trở thành giá trị cao quý chung của nhân loại và cộng, đồng quốc tế.
Cụ thể, quyền con người được kết tinh từ những phạm trù (thành tố) như: bình đăng, tự do, bác ái, nhân văn, lòng bao dung, công lý. Tại Lời nói đầu Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 (được Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua và công bố theo Nghị quyết số 217A (III) ngày 10/12/1948) đã khang định: Việc thừa nhận phẩm giá vốn có, các quyền bình đăng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là cơ sở cho tự do, công bằng và hòa bình trên thế giới. Điều cốt yếu là quyền con người cần phải được pháp luật bảo vệ để con người không buộc phải nổi dậy như là một biện pháp cuối cùng nhằm 10 chống lại sự độc tài và áp bức. Các quốc gia thành viên đã cam kết, cùng với Liên Hợp quốc, phấn đấu thúc đây sự tôn trọng và tuân thủ chung các quyền và tự do cơ bản cua con người [15].
Như vậy, việc tôn trọng và bảo vệ các quyền con người là nhiệm vụ chung của tất cả các quốc gia và mọi dân tộc trên thế giới, trước hết là trên phương diện chính trị - pháp lý, sau là thực tiễn xã hội. Từ khi có tuyên ngôn vẻ quyên con người, trải qua quá trình với nhiều sự thay đôi nhưng nghiên cứu về nhân quyền và bảo vệ quyền con người đã và luôn luôn là vấn đề nóng hồi và có ý nghĩa chính trị thời đại quan trọng của hành tinh chúng ta. Dưới ché độ chiếm hữu nô lệ, người nô lệ không được coi là con người, không có và không được thừa nhận các quyền con người. Chế độ phong kiến có bước tiến hơn so với chế độ nô lệ là đã có việc giành lại quyền tự do và giải phóng con người nhưng vẫn nằm trong mối lệ thuộc với những ông chủ cũ của mình vẻ nhiều mặt, đặc biệt là trong quan hệ về kinh tế.
Đến giai cấp tư sản là người đầu tiên nêu ngọn cờ nhân quyền, biết lợi dụng các tư tưởng tự do, bình dang, bac al, cong ly, von la yeu cau buc thiet cua nhan dan lao dong, tuyệt đối hóa tự do cá nhân, nhân mạnh yếu to cá nhân trong khái niệm quyền con người. Tuy nhiên, giai cấp tư sản chỉ tập trung nhân mạnh quyền dân sự, quyền chính tri, mà chưa coi trọng đến các quyền - kinh tế văn hóa xã hội - cơ sở và điều kiện quan trong dé người dân lao động thoát khỏi cảnh đói nghèo và bị bóc lột. Chỉ đến khi Cách mạng tháng Mười Nga no ra đã tạo nên một phạm trù mới về quyền con người - đó là các quyền kinh tế, văn hóa - xã hội. Từ sau chiến tranh thé giới thứ hai, các nước xã hội chủ nghĩa đã di đầu trong việc nêu bật các quyền dân tộc cơ bản như bộ phận thiết yếu của các quyền tập thé, đưa ra cách dé cập toàn diện và biện chứng hơn về nhân quyền.
Còn ở Châu Âu, kể từ thời Phục Hung trở di, tư tưởng về quyền tự nhiên ngày càng trở nên phô biến. Có thé ké đến một số đại biéu xuất sắc là Lôccơ (Anh), Rútxô 1] (Pháp), Xpinôda (Hà Lan), I. Can tơ, Pruphenđóocphơ (Duc), Jepphécxon (Mỹ) [11, tr. Mặc dù, khái niệm về quyền con người hiện đại chủ yếu bat nguồn từ Châu Âu nhưng ngày nay cần khang định rằng những khái niệm cơ bản của quyền con người về tự do và công băng xã hội có tính chất phô biến trên toàn thé giới.
Tiêu biểu nhất thé hiện nội dung nhân quyên phải kê đến hai văn ban nôi tiếng - Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyên và Dân quyền của Pháp năm 1789. Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776 đã ghi rõ: Những chân lý sau đây đã được chúng tôi công nhận như những sự thật hiên nhiên là tất cả mọi người sinh ra đều bình dang; tạo hóa đã cho họ các quyền không thể thay thế được; trong những quyền ay có quyền được sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc [30]. Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp năm 1789 tuyên bố: Người ta sinh ra tự do và bình đăng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đăng về quyền lợi [76]. Nhu vậy, có the khang định rang, luyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948, xét về nhiều phương diện chính trị - xã hội được xem là một trong những thành tựu vĩ đại của Liên Hợp quốc, đồng thời có ý nghĩa lịch sử vì đã đưa ra được những chuẩn mực chung cho tất cả các nước và dân tộc về quyền con người, thế giới đã lấy ngày 10/12 hàng năm là Ngày Nhân quyền thế giới.
Từ đó về sau, quyền con người được pháp điển hóa trong một loạt Công ước quốc tế ở các cap độ khác nhau về nhân quyền. Đối với nước ta, trải qua quá trình quyền con người bị xâm phạm nghiêm trong dé các quyền và tự do cơ bản của nhân dân được trân trọng ghi nhận trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và Hiến pháp năm 1946 là thành quả của cách mạng Việt Nam, công lao to lớn hơn cả là của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo đó tât cả con người và tât cả các dân tộc trên thê giới đêu có 12 quyền bình đăng, quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do. Quyền con người không chi là quyền cá nhân ma còn là quyền của mỗi dân tộc, của các dân tộc.
Hai quyền này thống nhất, làm tiền dé cho nhau, bảo vệ quyên con người cũng chính là bảo vệ quyền của mỗi dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thô. Bảo vệ và bảo đảm quyền con người là thước đo văn minh, dân chu và thé hiện ban chất nhân đạo của Nhà nước. Cốt lõi khái niệm quyền con người là khát vọng bảo vệ nhân phẩm của tat ca con người hay “diéu cốt yếu là các quyên con người phải được bảo vệ bang pháp luật" như GS. Lê Cam đã viết: Việc bảo vệ các quyền con người đã và vẫn đang là vấn đề trung tâm và có ý nghĩa thời đại của hành tinh chung ta, vì nó không chi là van đề muôn thủa mang tinh lich sử từ bao đời nay, mà còn mang tính thời sự quốc tế, không những là mục tiêu cơ bản trong cuộc đấu tranh của các dân tộc vì hòa bình, tự do, dân chủ và công lý, mà còn là môi quan tâm thường xuyên của nhân loại tiến bộ trên toàn trái dat [7, tr.
Quyên con người là giá trị cao quý nhất, là kết tỉnh của nền văn minh nhân loại song là van dé phức tap, cho đến nay giữa các nhà khoa học- luật gia trong và ngoài nước van có nhiều cách hiéu khác nhau về khái niệm quyền con người. Trong đó, đáng chú ý là một số nhà nghiên cứu pháp luật của Việt Nam đã đưa ra ý kiến như sau: Chuyên gia trong lĩnh vực Luật Hiến pháp, GS. Nguyễn Dang Dung viết:. Quyền con người đó là những quyền cơ bản nhất của con người, được có một cách tự nhiên gan bó mật thiết với con người - một động vật cao cấp có lý trí, và có tình cảm làm cho con người khác với các động vật khác, mà Nhà nước thành lập với một trong những nhiệm vụ quan trọng bậc nhât của mình là phải bảo vệ các 13 mm.
Van đề nhân quyền luôn luôn đi kèm và không thé thiếu được van dé bảo vệ nhân quyền. Một khi các quyền đó bị vi phạm cần phải có các biện pháp trừng trị những chủ thé vi phạm và cũng cần có những biện pháp khôi phục lại những quyền đó, đồng thời cũng nhấn mạnh nghĩa vụ, trách nhiệm phải bảo vệ nhân quyền từ phía Nhà nước. Trần Quang Tiệp quan niệm: Quyền con người là những đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ con người mới được hưởng trong những điều kiện chính trị, kinh té, văn hóa, xã hội nhất định, và tác giả chỉ ra các đặc điểm: Quyền con người vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính xã hội; mang tinh pho biến nhưng lại mang tính đặc thù; mang tính giai cấp, đồng thời mang tính nhân loại và thong nhất với quyền dân tộc cơ bản. Nội dung của quyền con người được đề ra, xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh cụ thê của từng giai đoạn cách mạng, từ bản chất của chế độ ta.
Quyền con người gan với quyền dân tộc cơ bản và thuộc phạm vi của chủ quyền quốc gia. Trần Ngọc Đường cho rằng: “Quan niệm nhân quyên vừa khang định cơ sở tự nhiên và giá trị nhân loại của quyên, đông thời cũng thừa nhận thuộc tính xã hội - chính trị và lịch sử cụ thé cua quyên con người thuộc một quốc gia, một dân tộc” [21, tr. Hoặc Từ điển Luật học đã nêu khái niệm rat dai, chỉ ra các đặc điểm và phân loại quyền con người: Quyền con người là quyền của thành viên trong xã hội loài người - quyền của tất cả mọi người.