Chương 1: Cơ sở lý thuyết Chương 2: Khảo sát lỗi sử dụng giới từ tiếng Anh của người Việt Chương 3: Một số giải pháp khắc phục lỗi sử dụng giới từ tiếng Anh của người Việt 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Định nghĩa về giới từ 1. Giới từ tiếng Anh Trong ngôn ngữ học đại cương, vấn đề phân định từ loại đã được đề cập từ thời Hy Lạp cổ đại. Nhưng phải đến thế kỉ thứ IV trước công nguyên thì từ loại giới từ mới được chú ý đến, mà người đầu tiên là Aristote (384 – 322 tr.
Trong số các từ loại mà ông phân định, giới từ cùng với liên từ được gộp vào một loại là từ nối. Một trường phái khác của triết học Hy Lạp, tiêu biểu là Stoic cũng phân biệt bốn thành phần của lời nói: danh từ, động từ, liên từ và mạo từ. Dựa trên các công trình của trường phái Stoic, các học giả thuộc trường phái Alexandria đã phân chia thành tám từ loại khác nhau, trong đó có giới từ. Theo đó, từ loại này được định nghĩa như sau: "Giới từ là những từ phụ đứng trước các từ khác".
Theo quan điểm của ngữ pháp truyền thống, giới từ chỉ được xem như một thành phần phụ của danh từ hay đại từ. Vì thế, trong tiếng Anh, giới từ cũng chỉ được coi là tên gọi của một từ loại đối lập với các từ loại khác như danh từ, động từ, tính từ, trạng từ, v. Đến thập niên 90 của thế kỷ XX, nhiều nhà ngôn ngữ học như: Ronald Langacker với ngữ pháp tri nhận (Cognitive Grammar), Joan Bresnan với ngữ pháp từ chức năng (Functional Lexical Grammar), Hudson với ngữ pháp từ (Word Grammar),… đã mở rộng danh sách giới từ theo hai hướng: (1) Giới từ không bắt buộc phải có bổ ngữ theo sau, và (2) Bổ ngữ của giới từ không nhất thiết phải là danh từ. Chính vì sự mở rộng này mà nhiều từ được xếp vào các từ loại khác nhau như “giới từ”, “trạng từ”, “liên từ phụ thuộc” hay “tiểu từ”.
Theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ học chức năng như: Talmy Givón, 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sylvia Chalker, Angela Downing, Philip Locke,… các tác giả này cũng vẫn chỉ coi giới từ là một lớp từ nhỏ. Chalker định nghĩa giới từ như sau “Giới từ là một tiểu loại từ. Chúng được dùng để kết nối các loại từ với các thành phần khác trong câu. Một số giới từ còn lệ thuộc vào các loại từ khác.
Nhưng giới từ là loại từ khép kín về nghĩa và chúng ta không thể tạo mới ra những giới từ đơn nữa” [Chalker, S 1992:102]. Các nhà ngữ pháp học hiện đại, khi nghiên cứu về giới từ tiếng Anh, cũng đưa ra nhiều quan niệm khác nhau, nhưng nhìn chung đều khá thống nhất về những đặc điểm cơ bản của giới từ. Dưới đây, chúng tôi điểm qua một số định nghĩa về giới từ tiếng Anh. Trong cuốn Oxford Advanced Learner’s Dictionary of Current Engllish, các tác giả A.
Wakefield (Oxford University Press, 1970) định nghĩa: “Giới từ là một từ hay nhiều từ được dùng với một danh từ hay đại từ để chỉ mối quan hệ của nó với những từ khác” [A. Gleason,“Giới từ là những từ chức năng mà ngữ nghĩa của nó bị ý nghĩa ngữ pháp làm lu mờ” [H. Heaton, trong cuốn Prepositions and adverbial particles (Giới từ và tiểu trạng từ) cho rằng “Giới từ là một từ loại chỉ mối quan hệ giữa danh từ hay đại từ với những từ khác trong câu. Giới từ thường đứng trước danh từ hay đại từ mà nó chi phối” [J.
Allen, trong cuốn Living English Structure (Cấu trúc tiếng Anh hiện hành) cho rằng: “Giới từ luôn được đặt trước từ mà nó chi phối, chỉ ra mối quan hệ giữa các từ hay cụm từ, mà thông thường là các mối quan hệ về thời gian, vị trí và phương hướng, các quan niệm về tinh thần hay xúc cảm. Giới từ cũng 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đứng sau các từ mà nó chi phối, đặc biệt là trong câu hỏi và các mệnh đề quan hệ hoặc nghi vấn” [W. Penelope Choy và James R.Mc Cormick, trong công trình Basic Grammar and Usage (Ngữ pháp cơ bản và cách dùng) quan niệm: “Giới từ là những từ ngắn trong ngôn ngữ của chúng ta được dùng để chỉ vị trí và mối quan hệ của một tân ngữ nào đó với tân ngữ kia” [Penelope Choy and James R. Svartvik, trong công trình A comprehensive grammar of the English language (Ngữ pháp tiếng Anh tường giải) cho rằng: “Theo cách nói khái quát nhất, giới từ biểu thị mối quan hệ giữa hai tổng thể, trong đó một được diễn tả bằng bổ ngữ giới từ” [R.
Sylvia Chalker, một nhà ngôn ngữ học chức năng lại định nghĩa: “Giới từ là một loại tiểu từ. Chúng được dùng để nối các từ loại (thường là danh từ) với các thành phần khác trong câu. Một số giới từ còn lệ thuộc vào các từ loại khác (VD: trạng từ, liên từ, tính từ). Nhưng giới từ là từ loại khép kín về nghĩa và chúng ta không thể tạo mới ra những giới từ đơn nữa”.
Halliday trong công trình An Introduction to Functional Grammar (Nhập môn Ngữ pháp chức năng) của mình, cho rằng: “Giới từ không phải là lớp nhỏ của phó từ, giới từ có quan hệ với động từ và làm chức năng là từ nối” [M. Qua những quan niệm về giới từ nói trên, có thể thấy rằng mỗi tác giả thường lấy một vài đặc điểm được coi là đặc trưng của giới từ để đưa ra định nghĩa của riêng mình về từ loại này. Allen quan tâm tới mặt ngữ nghĩa (sự lu mờ của nghĩa từ vựng so với nghĩa ngữ pháp hay 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các kiểu nghĩa tồn tại trong giới từ) thì A. Heaton, Penelope Choy và James Mc Cormick, R.
Halliday,… lại quan tâm tới mối quan hệ của giới từ với những từ khác trong câu. Còn nhà ngôn ngữ học chức năng Sylvia Chalker thì quan tâm tới cả chức năng, ngữ nghĩa của giới từ lẫn mối quan hệ của nó với các từ loại khác, cho rằng giới từ không thể đứng một mình mà tồn tại trong giới ngữ. Từ sự thống nhất tương đối trong cách định nghĩa của các tác giả nói trên, chúng tôi rút ra một số điểm đặc trưng của giới từ tiếng Anh như sau: (1) Về hình thức, giới từ có thể là từ đơn hay từ ghép; không thể độc lập làm thành phần của cụm từ và câu. (2) Về ngữ nghĩa, giới từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực, chủ yếu mang ý nghĩa ngữ pháp.
Các kiểu nghĩa tồn tại trong giới từ có thể là thời gian, vị trí, phương hướng, xúc cảm,… (3) Về vị trí, giới từ thường đứng trước danh từ hoặc đại từ mà nó chi phối. (4) Về chức năng, giới từ làm thành tố phụ để kết nối các thành phần trong câu, xác định mối quan hệ giữa các từ mà chúng liên kết. Giới từ tiếng Việt Trong giới Việt ngữ học, một số tác giả không thừa nhận việc phân định từ loại trong tiếng Việt. Theo đó, các tác giả này cũng phủ nhận sự tồn tại của giới từ.
Phần lớn các nhà nghiên cứu khác đều thừa nhận sự tồn tại của giới từ trong tiếng Việt, mặc dù cho đến nay nó vẫn không được coi là từ loại quan trọng. Hơn nữa, các quan niệm xung quanh từ loại này cũng có những điểm khác biệt nhất định giữa các nhà Việt ngữ học nên việc đưa ra bộ tiêu chí để xác định giới từ cũng chưa có sự thống nhất cao. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Với công trình Văn phạm Việt Nam (1956), Bùi Đức Tịnh coi giới từ cũng là một loại từ loại trong chín loại từ loại khác: “Giới từ và giới ngữ là những từ dùng để chỉ sự tương quan giữa ý nghĩa của hai từ và hai mệnh đề. Giữa hai từ ta còn dùng một giới từ.
Giữa hai mệnh đề, ta dùng một giới từ”. Trong cuốn Việt Nam văn phạm, Trần Trọng Kim cho rằng “Giới từ là tiếng dùng để liên lạc một tiếng với tiếng túc từ của nó” [Trần Trọng Kim 1960: 31] Khác với những tác giả trên, không chỉ tập trung vào việc chỉ ra chức năng của giới từ, tác giả Nguyễn Kim Thản (1984) làm rõ vị trí của giới từ trong hệ thống, cụ thể là giới từ là một loại hư từ thuộc nhóm quan hệ từ. Ông cho rằng: “Giới từ là một loại hư từ (trong nhóm quan hệ từ) có tác dụng nối liền từ phụ (hoặc từ tổ phụ) với chính (hoặc từ tổ chính) biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa hai đơn vị đó”. [Nguyễn Kim Thản 1984: 330] Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, Đinh Văn Đức coi giới từ cùng với liên từ thuộc hư từ cú pháp.
“Hư từ cú pháp, theo đó cũng là công cụ diễn đạt các quan hệ logic, các quan hệ trong cách thức phản ánh của người bản ngữ. Các hư từ cú pháp không làm trung tâm và cũng không làm thành tố phụ đoản ngữ, chúng là một thứ phương tiện liên kết “xúc tác” thành tố phụ với trung tâm đoản ngữ, các đoản ngữ, các mệnh đề với nhau trong cấu trúc phát ngôn” [Đinh Văn Đức 1986: 179]. Nguyễn Minh Thuyết trong bài Thảo luận về vấn đề xác định hư từ trong tiếng Việt cho giới từ là một từ loại năm trong hư từ chân chính, nó “(1) Không có ý nghĩa chân thực; (2) Không có khả năng làm thành phần câu và khả năng một mình làm nên một câu độc lập” [Nguyễn Minh Thuyết 1986: 39]. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tác giả Vũ Văn Thi cũng cho rằng: “Giới từ là một loại hư từ thuộc nhóm quan hệ từ, có chức năng thể hiện mối quan hệ cú pháp giữa thành phần chính và thành phần phụ trong câu” [Vũ Văn Thi 1995: 25] Trong cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nguyễn Như Ý đưa ra định nghĩa về giới từ: “Giới từ - từ loại có ý nghĩa phạm trù đặc trưng là biểu thị quan hệ của đối tượng với đối tượng, hiện tượng, cảnh huống.
Ý nghĩa này được biểu hiện không phải bằng ý nghĩa từ vựng chân thực mà bằng đặc điểm hoạt động của chúng với tư cách là các từ hư chỉ quan hệ” [Nguyễn Như Ý 1996: 104]. Cũng nhấn mạnh vào chức năng của giới từ, Phan Khôi quan niệm: “Giới từ dùng để giới thiệu danh từ hoặc đại danh từ đến với động từ, danh từ hoặc đại danh từ khác để tỏ ra sự quan hệ giữa chúng nó với nhau” [Phan Khôi 1997: 195]. Đề cập đến giới từ, Diệp Quang Ban không gọi là “quan hệ từ” mà gọi từ loại này là “kết từ”.