chương I của Nghị định số 73/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/9/1999 về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, văn hoá, y tế, thể thao, đã ghi:"Nhà nước khuyến khích các tổ chức và cá nhân huy động các nguồn lực trong nhân dân vào trong các tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế để phát triển các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao theo đúng quy định của pháp luật". Việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe là nhu cầu thiết yếu của mỗi người dân và của cả cộng đồng. Đây không chỉ là nhiệm vụ của ngành y tế mà còn là trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng và Chính quyền của các đoàn thể quần chúng và tổ chức xã hội. Vì vậy thực hiện xã hội công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân là cần thiết và phù hợp với xu thế thời đại.
Nội dung xã hội hoá công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe con người là động viên và tổ chức tốt sự tham gia tích cực, chủ động của mọi người với tư cách cộng đồng và tư cách cá nhân, trên cả 2 mặt hoạt động và đóng góp Các Đại hội Đảng lần thứ VIII, IX, X khẳng định, các vấn đề chính sách xã hội đều phải giải quyết theo tinh thần xã hội hoá. Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết những vấn đề xã hội. c 11 Cùng với sự phối hợp liên ngành, công tác CSBVSKND phải được hỗ trợ bằng sự huy động các lực lượng của cộng đồng cùng tham gia. Xã hội hoá công tác CSSKND cần phải được coi là một tư tưởng chiến lược có tính lâu dài, toàn diện, là một giải pháp xã hội có tính liên ngành cao nhằm huy động các lực lượng xã hội.
Tham gia một cách tích cực để giải quyết một vấn đề hết sức quan trọng trong chiến lược con người. Trong Điều 1 của luật BVSKND đã chỉ ra "Bảo vệ sức khỏe là sự nghiệp của toàn dân, tất cả công dân có nghĩa vụ thực hiện nghiêm chỉnh những quy định của Pháp luật về BVSKND để giữ gìn SKND, để giữ gìn sức khỏe cho mình và cho mọi người". Việc chăm sóc sức khỏe ban đầu phải được xã hội hoá, tức là làm cho toàn xã hội thông hiểu và tham gia thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu. Từng người dân, từng gia đình, từng đoàn thể, từng cộng đồng có trách nhiệm đóng góp nhân, tài, vật lực cùng với nhà nước chăm lo sức khỏe cho mỗi người và cho cả cộng đồng.
Cần huy động xã hội để đa dạng hoá công tác CSSK, phát huy tự lực trên cơ sở phát triển năng lực nội sinh. Xã hội hoá công tác CSSKND là một yêu cầu bức thiết để thực hiện chiến lược "Sức khỏe cho mọi người đến năm 2020". Cuộc vận động xã hội rộng lớn nay đòi hỏi sự nổ lực cộng tác và hợp tác của tất cả thành viên xã hội, ở tất cả các cấp. Thực hiện xã hội hoá sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân là cần thiết không những đối với nước ta mà còn phù hợp với xu thế thời đại.
Chúng ta hiểu rằng, xã hội hoá không phải là ỷ lại, trông chờ vào sự bao cấp của Nhà nước, song cũng cần nhận rõ trong quá trình xã hội hoá công tác CSSKND thì trách nhiệm của Nhà nước, của ngành y tế không phải là giảm nhẹ mà trái lại càng to lớn hơn, nặng nề hơn rất nhiều c 12 Vì thế, chúng ta phải giải quyết tốt cả hai mặt: Trách nhiệm của ngành y tế đối với toàn xã hội và trách nhiệm của xã hội, của từng cộng đồng, của từng gia đình và của từng người dân đối với sự nghiệp chăm sóc sức khỏe. Hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe của Y tế thôn bản Giáo dục sức khỏe là một nội dung vô cùng quan trọng trong tuyên ngôn Alma Ata [56]. Việc tăng cường kiến thức và hiểu biết của người dân về tự bảo vệ và tăng cường sức khỏe vẫn là nhiệm vụ hết sức quan trọng nhằm tạo cơ sở cho người dân tự bảo vệ và nâng cao sức khỏe. Giáo dục loại bỏ dần những lối sống, thói quen và phong tục tập quán có hại cho sức khỏe, làm cho mọi người thực hành các hành vi có lợi cho sức khỏe, thấy rõ trách nhiệm của họ trong việc tự bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng.
Bộ y tế đã quy định một trong những nhiệm vụ quan trọng của Y tế thôn bản khi làm CSSKBĐ đó chính là tuyên truyền giáo dục sức khỏe tại cộng đồng [8]. Theo nghiên cứu của tác giả Hoàng Viết Ngọc tại Võ Nhai [21] hầu hết (98,9%) YTTB thực hiện TT-GDSK, 50% thực hiện TT-GDSK 1lần/3tháng, 35,3% thực hiện TT-GDSK 1 lần/ tháng; 84,7% người dân quan tâm chú ý lắng nghe khi YTTB tiến hành TT-GDSK; mới có 34,9% YTTB hoàn thành nhiệm vụ TT-GDSK; việc thực hiện nhiệm vụ CSSK BM&TE của YTTB: 100% bà mẹ được YTTB vận động tiêm phòng uốn ván; 99,1% bà mẹ được hướng dẫn nuôi con bằng sữa mẹ; Các tỷ lệ tiêm phòng và uống Vitamin A đều đạt trên 99%. 91,7% YTTB hoàn thành tốt nhiệm vụ CSSK BM&TE; trong 5 nhiệm vụ, YTTB thực hiện tốt nhất là theo dõi biểu đồ tăng trưởng (82,6%), tiếp theo là hướng dẫn bà mẹ về chế độ dinh dưỡng là 81,7%, Truyền thông CSSKBMTE/KHHGĐ (77,7%). Đối với bà con vùng dân tộc thiểu số, nhất là ở các xóm, bản có điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, đội ngũ YTTB đóng vai trò như những thầy thuốc thực sự, luôn hết lòng vì sức khỏe nhân dân.
Tuy không làm trong các bệnh viện, trạm y tế nhưng họ là người tuyên truyền, giáo dục sức c 13 khoẻ, tham gia thực hiện các hoạt động chuyên môn về y tế, sơ cứu ban đầu, tham gia thực hiện các chương trình y tế quốc gia. tại thôn, xóm, bản. Hiện nay, nhiệm vụ của trạm y tế xã, phường, thị trấn là vừa thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân, vừa thực hiện công tác dự phòng, đẩy mạnh truyền thông giáo dục sức khỏe, nâng cao nhận thức về phòng bệnh. Hiện, mỗi trạm y tế được giao thực hiện hơn 20 chương trình y tế quốc gia, trong đó có nhiều chương trình quan trọng bắt buộc phải thực hiện đầy đủ như: tiêm chủng mở rộng, phòng chống dịch bệnh, phòng chống suy dinh dưỡng, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em.
Với khối lượng công việc nhiều như vậy, các trạm y tế luôn cần có đội ngũ nhân viên YTTB tích cực, yêu nghề và gắn bó với địa bàn. Đây là lực lượng trực tiếp và gần dân nhất làm nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến đến người dân kiến thức về bảo vệ sức khoẻ, vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm, phòng, chống HIV/AIDS; vận động phụ nữ mang thai đến trạm y tế xã đăng ký khám thai, chăm sóc thai kỳ; hướng dẫn một số biện pháp chăm sóc sức khoẻ ban đầu, phòng, chống dịch bệnh tại cộng đồng; vận động, cung cấp thông tin, tư vấn về công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình; phát hiện, tham gia giám sát và báo cáo tình hình dịch, bệnh truyền nhiễm, bệnh không lây nhiễm, bệnh xã hội, bệnh truyền qua thực phẩm tại thôn, bản; tham gia giám sát chất lượng nước dùng cho ăn uống, sinh hoạt; tham gia triển khai thực hiện các phong trào vệ sinh phòng bệnh, an toàn thực phẩm, nâng cao sức khỏe cộng đồng. Không chỉ nhiệt tình, tích cực, yếu tố cần phải có của một nhân viên YTTB là sự am tường địa bàn, sự gắn bó với người dân trong xóm, bản, có kỹ năng truyền thông và giao tiếp tốt với người dân. Trên thực tế, việc hạn chế lây lan dịch bệnh, thay đổi hành vi của người dân trong phòng ngừa bệnh tật không đơn thuần chỉ do tác động của các can thiệp chuyên môn y tế, mà cần có tác động can thiệp vào các yếu tố khác: tâm lý, tình cảm, phong tục tập quán, thói quen lối sống, điều kiện kinh tế.
Những điều này, những nhân viên YTTB lại là người đóng vai c 14 trò quan trọng nhất. Anh Triệu Thanh T - nhân viên YTTB xóm Keo En (xã Thanh Định – huyện Định Hóa – tỉnh Thái Nguyên) cho biết: “. Tôi làm nhiệm vụ của một YTTB từ năm 2001 đến nay. Hiện cả xóm có 40 hộ với 153 nhân khẩu.
Do đặc thù là xóm thuần nông, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số nên việc truyền thông về công tác phòng chống dịch, giữ gìn vệ sinh môi trường, sử dụng nước sạch, vệ sinh an toàn thực phẩm, tiêm chủng mở rộng, phòng chống HIV/AIDS, phòng chống tai nạn thương tích, kế hoạch hóa gia đình. cũng phải có những cách thức, nội dung phù hợp thì mới đem lại kết quả. Để truyền thông những nội dung theo kế hoạch từng tháng, hầu hết tôi và các YTTB khác đều phải tranh thủ thời gian buổi tối đến tận các hộ vì các hộ đều lên rừng, ra đồng làm việc từ sáng sớm. Cũng có khi lại tận dụng thực hiện hiện nhiệm vụ truyền thông tại các buổi họp xóm, thời điểm có đông đủ bà con trong xóm nhất” [1].
Để hoạt động TT-GDSK của YTTB thực hiện được hiệu quả thì tần suất, phương pháp thực hiện và việc lựa chọn nội dung để truyền thông là rất quan trọng. Nghiên cứu của tác giả Lê Ngọc Phát [25] đã chỉ ra rằng 100% YTTB tham gia TT-GDSK với tần suất hàng tháng, phương pháp tư vấn cá nhân và tư vấn hộ gia đình là chủ yếu, tờ rơi và loa truyền thanh là phương tiện chủ yếu để truyền thông. Một nghiên cứu khác của tác giả La Đăng Tái [31] cho thấy tần suất thực hiện truyền thông hàng tháng là chủ yếu (47,3%); nội dung truyền thông giáo dục sức khỏe chủ yếu là vận động phụ nữ có thai đi khám thai, tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ có thai, nuôi con bằng sữa mẹ, phòng chống SDD trẻ em, tiêm chủng mở rộng, KHHGĐ, vệ sinh môi trường. Bên cạnh đó các nội dung truyền thông như phòng chống lao, HIV/AIDS, tăng huyết áp, tiểu đường cũng được YTTB tư vấn.
c 15 Một nghiên cứu của tác giả Đỗ Hữu Thủy [33] cho thấy hoạt động quản lý địa bàn của YTTB được thực hiện khá tốt (79,3%), hầu hết YTTB đều thực hiện nhiệm vụ TT-GDSK (98%).