Tổng quan nghiên cứu

Thị trường lao động Việt Nam đối mặt với thách thức lớn khi thanh niên chiếm khoảng 45% tổng số người thất nghiệp, với tỷ lệ thiếu việc làm cao gấp 3 lần so với nhóm lao động lớn tuổi. Tại thành phố Đà Nẵng, số liệu thống kê năm 2010 ghi nhận lực lượng thanh niên trong độ tuổi 15-29 đạt 303.816 người, chiếm tới 66,9% tổng lực lượng lao động toàn đô thị (453.457 người). Mặc dù nền kinh tế địa phương đạt tốc độ tăng trưởng khá, lao động trẻ vẫn gặp nhiều rào cản khi tiếp cận việc làm ổn định do cơ cấu đào tạo chưa bám sát nhu cầu thực tế của thị trường.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá thực trạng công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên Đà Nẵng giai đoạn 2005-2010, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ định hướng đến năm 2020. Phạm vi không gian tập trung tại địa bàn thành phố Đà Nẵng, có tham chiếu đối sánh kinh nghiệm từ thành phố Hà Nội, Nhật Bản và Cộng hòa Liên bang Đức. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa kinh tế - xã hội quan trọng, cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học giúp địa phương phấn đấu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên trên 65%, hạ tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên xuống dưới mức 4%, đồng thời tối ưu hóa nguồn lực công với hơn 91% vốn xã hội hóa trong lĩnh vực dạy nghề.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Lý thuyết vốn con người (Human Capital Theory) và Lý thuyết thị trường lao động (Labor Market Theory) kết hợp mô hình cân bằng cung - cầu lao động kỹ thuật. Khung lý thuyết làm rõ bốn khái niệm cốt lõi:

  • Đào tạo nghề: Hoạt động trang bị kiến thức, kỹ năng thực hành và thái độ nghề nghiệp theo Luật Dạy nghề nhằm giúp người học có khả năng tìm kiếm hoặc tự tạo việc làm.
  • Việc làm: Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập hợp pháp theo quy định của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Bộ luật Lao động Việt Nam.
  • Lực lượng lao động thanh niên: Nhóm công dân từ 15 đến 29 tuổi có khả năng lao động, sẵn sàng làm việc hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm.
  • Tạo việc làm: Quá trình kết hợp tối ưu giữa tư liệu sản xuất và sức lao động để tạo ra sản phẩm, dịch vụ đáp ứng yêu cầu thị trường.

Mô hình nghiên cứu khẳng định mối quan hệ biện chứng: Nhu cầu của thị trường việc làm quy định cơ cấu, nội dung đào tạo; ngược lại, chất lượng đào tạo nghề trực tiếp quyết định năng lực cạnh tranh và thu nhập của lao động thanh niên.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ dữ liệu thứ cấp của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2005-2010 kết hợp số liệu thống kê dân số chính thức. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực tế quy mô lớn đối với 1.000 doanh nghiệp thuộc ba khối ngành công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ và nông nghiệp trên địa bàn thành phố, cùng dữ liệu khảo sát từ 53 cơ sở đào tạo nghề.

Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho mọi thành phần kinh tế, bao gồm doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tác giả kết hợp phân tích thực chứng và phân tích chuẩn tắc, xử lý dữ liệu định lượng bằng thống kê mô tả và so sánh tương quan để đối chiếu chính xác cơ cấu cung - cầu lao động. Toàn bộ quy trình khảo sát, tổng hợp và xử lý dữ liệu được hoàn thành trong giai đoạn 2009-2011.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô đào tạo nghề của Đà Nẵng tăng trưởng nhanh với tốc độ bình quân 13%/năm (cao hơn mức 11% của cả nước), đạt 42.178 học viên vào năm 2010. Tuy nhiên, hệ thống đào tạo bị mất cân đối nghiêm trọng về phân cấp trình độ: Sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên chiếm tới 70,42% (29.698 học viên), trung cấp nghề chiếm 23,11% (9.750 học viên), trong khi cao đẳng nghề chỉ chiếm 6,47% (2.730 học viên).

Thứ hai, thị trường xuất hiện nghịch lý thừa thầy thiếu thợ gay gắt. Khảo sát 1.000 doanh nghiệp cho thấy nhu cầu tuyển dụng công nhân kỹ thuật chiếm tới 75%, trong khi lao động có trình độ chuyên môn cao đẳng, đại học chỉ chiếm 25% (đại học chiếm 13%, cao đẳng chiếm 2%, trung cấp chiếm 10%). Tỷ lệ thất nghiệp của nhóm thanh niên tốt nghiệp đại học, cao đẳng lên đến 14,74%, cao hơn nhiều so với tỷ lệ thất nghiệp 9,75% của nhóm lao động qua đào tạo nghề.

Thứ ba, cơ cấu ngành nghề đào tạo lệch pha hoàn toàn so với nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp. Năm 2010, ngành vận tải chiếm tới 28,90% tổng số học viên đào tạo nhưng doanh nghiệp chỉ có nhu cầu tuyển dụng 0,65%. Ngược lại, nhóm ngành kỹ thuật doanh nghiệp có nhu cầu 27,43% thì đào tạo chỉ đáp ứng 12,12%; nhóm ngành dịch vụ, du lịch, nhà hàng, khách sạn doanh nghiệp cần 25,23% nhưng đào tạo mới đạt 18,30%. Quy mô tuyển sinh mới chỉ đáp ứng 60-70% nhu cầu nhân lực kỹ thuật của thành phố.

Thứ tư, chất lượng đào tạo thực hành chưa đạt chuẩn. Thời lượng thực hành tại các trường trung cấp nghề chỉ chiếm 51,4%, thấp hơn trung tâm dạy nghề (58,3%) và mức trung bình chung (55,6%), dẫn đến tình trạng học viên ra trường thiếu kỹ năng thao tác và doanh nghiệp buộc phải đào tạo lại.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các bất cập trên bắt nguồn từ tâm lý chuộng bằng cấp của xã hội, công tác hướng nghiệp học đường chưa hiệu quả và sự thiếu hụt trang thiết bị hiện đại tại 53 cơ sở dạy nghề.

Khi so sánh với kinh nghiệm quốc tế, mô hình đào tạo kép của Đức (nơi 93,3% doanh nghiệp sở hữu cơ sở đào tạo, học viên thực hành tại doanh nghiệp 3-4 ngày/tuần) và mô hình đào tạo tại chỗ của Nhật Bản (80% học sinh phổ thông được doanh nghiệp trực tiếp tuyển dụng và đào tạo) cho thấy Đà Nẵng cần chuyển từ mô hình đào tạo thụ động sang mô hình gắn kết chặt chẽ với đơn đặt hàng sản xuất. So với Hà Nội trong việc cấp thẻ học nghề miễn phí và phân bổ quỹ đất trường nghề trong các khu công nghiệp, Đà Nẵng còn thiếu các chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề đột phá cho lao động vùng đô thị hóa.

Các phát hiện này được minh họa rõ nét qua biểu đồ cơ cấu trình độ lực lượng lao động thanh niên và bảng ma trận so sánh tỷ trọng đào tạo với nhu cầu tuyển dụng thực tế của 6 nhóm ngành kinh tế mũi nhọn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, quy hoạch và nâng cấp mạng lưới 53 cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn. Ủy ban nhân dân thành phố cùng Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cần phân bổ ngân sách hiện đại hóa xưởng thực hành, nâng tỷ lệ thời gian đào tạo thực hành lên 65-70% ở bậc trung cấp và cao đẳng nghề, mở rộng quy mô đào tạo đạt trên 50.000 học viên/năm vào năm 2015.

Thứ hai, thiết lập cơ chế liên kết ba nhà giữa Nhà nước, Nhà trường và Doanh nghiệp. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì xây dựng chính sách ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp tiếp nhận 100% học viên thực tập có hưởng lương, đặt mục tiêu trên 90% thanh niên có việc làm đúng chuyên ngành sau tốt nghiệp trong giai đoạn 2012-2020.

Thứ ba, mở rộng các chương trình tín dụng ưu đãi và hỗ trợ khởi nghiệp thanh niên. Thành Đoàn Đà Nẵng phối hợp Ngân hàng Chính sách Xã hội tăng cường nguồn vốn vay từ Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm, triển khai đề án khởi sự doanh nghiệp cho 10.000 thanh niên nông thôn, thanh niên bị thu hồi đất đô thị hóa và bộ đội xuất ngũ đến năm 2020.

Thứ tư, hiện đại hóa hệ thống sàn giao dịch việc làm và tư vấn hướng nghiệp. Trung tâm Giới thiệu việc làm thanh niên cần duy trì định kỳ 24 phiên chợ việc làm mỗi năm, đồng thời phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức phân luồng, hướng nghiệp cho 100% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông từ năm 2013.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng có thể ứng dụng các số liệu dự báo cung - cầu lao động giai đoạn 2011-2020 để hoàn thiện quy hoạch mạng lưới dạy nghề và chiến lược giải quyết việc làm đô thị.
  • Ban giám hiệu các trường cao đẳng, trung cấp và trung tâm dạy nghề: Sử dụng phân tích về thời lượng thực hành (51,4% - 62,7%) để tái cấu trúc chương trình đào tạo, tăng thời lượng rèn luyện kỹ năng xưởng lên 70% và ký kết hợp đồng đào tạo theo đơn đặt hàng.
  • Doanh nghiệp và hiệp hội ngành nghề tại miền Trung: Tham khảo mô hình liên kết đào tạo doanh nghiệp của Đức và Nhật Bản để chủ động xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật, đáp ứng 75% nhu cầu tuyển dụng công nhân lành nghề.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Kinh tế phát triển, Kinh tế lao động: Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp điều tra chọn mẫu 1.000 doanh nghiệp và phân tích định lượng tương quan giữa đào tạo nghề và tạo việc làm cho thanh niên.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên có bằng cao đẳng, đại học (14,74%) lại cao hơn lao động học nghề (9,75%)? Nghịch lý này xuất phát từ cơ cấu nhu cầu của 1.000 doanh nghiệp khảo sát khi cần tới 75% công nhân kỹ thuật nhưng chỉ cần 25% lao động chuyên môn. Cử nhân đại học thường thiếu kỹ năng thao tác thực tế, kỳ vọng thu nhập cao và khó thích ứng với vị trí sản xuất trực tiếp tại các nhà máy, xí nghiệp.

Tình trạng lệch pha ngành nghề đào tạo tại Đà Nẵng thể hiện rõ nhất ở lĩnh vực nào? Sự lệch pha thể hiện rõ nhất ở ngành vận tải khi chiếm 28,90% quy mô đào tạo nhưng nhu cầu doanh nghiệp chỉ chiếm 0,65%. Ngược lại, khối ngành kỹ thuật chiếm 27,43% và khối dịch vụ - du lịch chiếm 25,23% tổng nhu cầu tuyển dụng nhưng hệ thống đào tạo mới chỉ đáp ứng lần lượt 12,12% và 18,30%.

Mô hình đào tạo nghề của Đức và Nhật Bản đem lại bài học then chốt nào cho Đà Nẵng? Bài học cốt lõi là gắn kết thực chất nhà trường với doanh nghiệp. Tại Đức, 93,3% doanh nghiệp sở hữu cơ sở đào tạo và học viên làm việc thực tế 3-4 ngày/tuần. Tại Nhật Bản, mô hình đào tạo tại chỗ sau tuyển dụng giúp 80% học sinh tốt nghiệp phổ thông nhanh chóng làm chủ công nghệ mà không làm phát sinh chi phí đào tạo lại.

Quy mô đào tạo nghề của Đà Nẵng giai đoạn 2005-2010 đã đạt được những kết quả nổi bật gì? Quy mô tuyển sinh nghề tăng bình quân 13%/năm, đạt 42.178 người vào năm 2010 với 121 ngành nghề đa dạng. Hệ thống đã huy động hiệu quả nguồn lực xã hội hóa khi ngân sách chỉ cấp 8,71% chỉ tiêu, hỗ trợ hơn 80% thanh niên sau tốt nghiệp có việc làm ổn định.

Giải pháp then chốt nào giúp nâng cao chất lượng tay nghề cho học viên trường nghề? Giải pháp đột phá là tăng tỷ lệ thời gian thực hành lên mức tối thiểu 65-70% thay vì mức 51,4% như tại các trường trung cấp năm 2009. Đồng thời, thành phố cần ban hành chính sách ưu đãi để doanh nghiệp chuyển giao máy móc hiện đại và cử kỹ sư tham gia giảng dạy trực tiếp.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định tầm quan trọng chiến lược của 303.816 lao động thanh niên, chiếm 66,9% lực lượng lao động thành phố Đà Nẵng trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
  • Công trình chỉ rõ nguyên nhân cốt lõi gây ra thất nghiệp là do khoảng trống kỹ năng thực hành (thời lượng thực hành chỉ đạt 51,4% - 55,6%) và cơ cấu đào tạo lệch pha nghiêm trọng so với nhu cầu 75% thợ kỹ thuật của 1.000 doanh nghiệp.
  • Hệ thống hóa thành công bài học kinh nghiệm từ mô hình đào tạo kép của Đức, mô hình đào tạo tại chỗ của Nhật Bản và chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề của Hà Nội.
  • Đề xuất lộ trình 4 nhóm giải pháp đột phá gắn kết chặt chẽ Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp nhằm nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên trên 65% vào năm 2020.
  • Đóng góp nguồn dữ liệu phân tích định lượng chuẩn xác, phục vụ trực tiếp cho công tác hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực thanh niên của thành phố.

Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và cơ sở giáo dục nghề nghiệp hãy ứng dụng ngay khung giải pháp từ công trình này để thúc đẩy phát triển thị trường lao động thanh niên Đà Nẵng bền vững.