chương 1 Với mục tiêu nghiên cứu là nhận diện được các yếu tố thành phần thang đo giá trị thương hiệu tác động đến quyết định lựa chọn ngân hàng thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Qua kết quả nghiên cứu và thực trạng sẽ giúp cho các nhà quản trị có cái nhìn mới mẻ về thị trường và đưa ra các chiến lược phù hợp với thị trường. Đề tại thực hiện phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng qua hai giai đoạn nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức. LV thạc sĩ Kinh tế 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Khái quát về thanh toán quốc tế 2.1 Khái niệm về thanh toán quốc tế và phương thức thanh toán quốc tế Trong quan hệ quốc tế sâu rộng giữa các quốc gia, quan hệ kinh tế quốc tế (mà chủ yếu là ngoại thương) vẫn giữ một vị trí vô cùng quan trọng và là cơ sở cho các quan hệ quốc tế khác tồn tại và phát triển.
Các hoạt động trao đổi quốc tế dẫn đến nhu cầu chi trả, thanh toán giữa các chủ thể ở các nước khác nhau từ đó hình thành và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế, trong đó ngân hàng đóng vai trò cầu nối giữa các bên. Như vậy, “Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các LV thạc sĩ Kinh tế tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, các nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan” (Nguyễn Văn Tiến, 2005, tr.100) Khái niệm trên cho thấy thanh toán quốc tế phục vụ cả hai lĩnh vực hoạt động là kinh tế và phi kinh tế. Tuy được phân chia như vậy nhưng trong thực tế giữa hai lĩnh vực này thường giao thoa với nhau. Trong các quy chế về thanh toán và thực tế tại các ngân hàng thương mại, người ta thường phân loại hoạt động thanh toán quốc tế thành hai lĩnh vực rõ rang là: thanh toán trong ngoại thương (hay thanh toán mậu dịch) và thanh toán phi ngoại thương (hay thanh toán phi mậu dịch) - Thanh toán trong ngoại thương: là việc thực hiện thanh toán trên cơ sở hàng hóa nhập khẩu và cung ứng các dịch vụ thương mại cho nước ngoài theo giá cả thị trường quốc tế.
Cơ sở để các bên tiến hành mua bán và thanh toán cho nhau là hợp đồng ngoại thương. 8 - Thanh toán phi ngoại thương: là việc thực hiện thanh toán không liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu cũng như cung ứng lao vụ cho nước ngoài, nghĩa là thanh toán cho các hoạt động không mang tính thương mại. Đó là việc chi trả các chi phí của các cơ quan ngoại giao ở nước ngoài, các chi phí đi lại của các đoàn khác nhà nước, tổ chức và các nhân, các nguồn tiền quà biếu, trợ cấp của các nhân người nước ngoài cho cá nhân trong nước, các nguồn trợ cấp của một tổ chức từ thiện nước ngoài cho tổ chức, đoàn thể trong nước… Việc thanh toán giữa hai chủ thể thuộc hai quốc gia khác nhau phải được tiến hành thông qua ngân hàng bằng những phương thức thanh toán nhất định. Trần Hoàng Ngân (2008) đã định nghĩa phương thức thanh toán quốc tế là cách thức thực hiện chi trả một hợp đồng xuất nhập khẩu thông qua trung gian ngân hàng bằng cách trích tiền từ tài khoản của nhà nhập khẩu chuyển vào tài khoản của nhà xuât khẩu căn cứ vào hợp đồng ngoại thương và chứng từ do hai bên cung cấp cho ngân LV thạc sĩ Kinh tế hàng.
Việc lựa chọn phương thức thanh toán quốc tế nào tùy thuộc vào sự thương lượng giữa hai bên và phù hợp với tập quán cũng như luật lệ trong thanh toán và buôn bán quốc tế, nghiệp vụ thanh toán quốc tế tại các ngân hàng.2 Các phương thức thanh toán quốc tế thông dụng Thanh toán quốc tế đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thế giớ và chủ yếu được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng trên toàn cầu. Ba phương thức thanh toán quốc tế thông dụng nhất hiện nay là: phương thức chuyển tiền, phương thức nhờ thu và phương thức tín dụng chứng từ. Trần Hoàng Ngân (2008) đã giới thiệu 3 phương thức này như sau: 2.1 Chuyển tiền (Telegraphic Transfer – TT) Chuyển tiền là phương thức thanh toán trong đó một khách hàng của ngân hàng (gọi là người chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng chuyển một số tiền nhất định cho người thụ hưởng ở một địa điểm nhất định. 9 Chuyển tiền gồm có hai hình thức: chuyển tiền trả trước và chuyển tiền trả sau.
Chuyển tiền trả sau là hình thức chuyển tiền tra cho người xuất khẩu trước khi nhận hàng. Ngược lại, chuyển tiền trả trước là hình thức mà trong đó người xuất khẩu được chuyển tiền trước khi giao hàng. Trên thực tế, hai phía có thể áp dụng chuyển tiền “hỗn hợp”, tức là trả trước một phần, trả sau một phần theo một tỷ lệ nhất định để giảm thiểu rủi ro cho cả hai. Trong phương thức này, ngân hàng phục vụ người chuyển tiền sẽ thực hiện việc chuyển tiền trong khi ngân hàng phục vụ người thụ hưởng sẽ tiến hành bảo có.
Có thể nói, chuyển tiền là nghiệp vụ thanh toán đơn giản, trong đó người chuyển tiền và người nhận tiền tiến hành thanh toán trực tiếp cho nhau. Ngân hàng khi thực hiện chuyển tiền chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán theo ủy nhiệm để hưởng phí và không bị ràng buộc bất cứ trách nhiệm gì đối với người chuyển và người thụ hưởng.2 Nhờ thu (Collection) LV thạc sĩ Kinh tế Nhờ thu là phương thức thanh toán trong đó người xuất khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ, tiến hành ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền từ nhà nhập khẩu dựa trên cơ sở hối phiếu và chứng từ do người xuất khẩu lập ra. Trong phương thức nhờ thu, các ngân hàng tham gia vào quá trình thanh toán sâu hơn so với phương thức chuyển tiền. Mức độ tham gia của các ngân hàng vào quá trình nhờ thu phụ thuộc hoàn toàn vào nội dung các chỉ thị và những gì (chứng từ) mà người bán ủy quyền cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ.3 Tín dụng chứng từ (Documentary Credits) Phương thức tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán quốc tế được đánh giá là ưu việt hơn cả trong thanh toán quốc tế vì nó khắc phục được những nhược điểm của các phương thức khác.
Nội dung phương thức tín dụng chứng từ được thực hiện theo bản “Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (Uniform Customs and Practice for Documents Credits), phiên bản mới nhất là UCP600. 10 Tín dụng chứng từ là phương thức trong đó một ngân hàng theo yêu cầu của khách hàng cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho người thụ hưởng hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó nếu người này xuất trình được bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định nêu ra trong thư tín dụng. Theo UCP 600 thì Thư tín dụng nghĩa là bất cứ thỏa thuận được gọi hoặc miêu tả như thế nào, theo đó ngân hàng (ngân hàng phát hành) hành động theo yêu cầu và chỉ thị của khách hàng (người yêu cầu mở Thư tín dụng) hoặc đại diện cho chính bản thân mình: - Thanh toán cho, hoặc theo lệnh của phía thứ ba (người thụ hưởng) hoặc chấp nhận và thanh toán hối phiếu do Người thụ hưởng ký phát, hoặc; - Ủy quyền cho ngân hàng khác thanh toán, chấp nhận và thanh toán hối phiếu; - Cho phép ngân hàng khác chiết khấu chứng từ quy định trong Thư tín dụng, với điều kiện chúng phù hợp với tất cả các điều khoản và điều kiện của Thư tín dụng. LV thạc sĩ Kinh tế Trong phương thức tín dụng chứng từ, có ba mối quan hệ hợp đồng được hình thành: Thứ nhất, quan hệ hợp đồng giữa người mua và người bán, được thể hiện bằng các điều khoản quy định trong hợp đồng mua bán (bao gồm điều khoản quy định về phương thức thanh toán).
Nếu người mua và người bán đồng ý chọn phương thức tín dụng chứng từ thì nó cũng phải được thể hiện thành điều khoản trong hợp đồng mua bán. Thứ hai, quan hệ hợp đồng giữa người mua (người đề nghị mở LC) và ngân hàng phục vụ người mua (ngân hàng phát hành LC). Thứ ba, quan hệ hợp đồng giữa ngân hàng phục vụ người mua (ngân hàng phát hành LC) và người thụ hưởng LC (người bán). Mối quan hệ này là hệ quả của hai mối quan hệ trên nhưng lại là một nghĩa vụ hợp đồng độc lập của ngân hàng phát hành LC.
Trong phương thức chuyển tiền, ngân hàng đơn thuần chỉ thực hiện chức năng chuyển tiền theo yêu cầu của người mua và nhận tiền hộ người bán. Trong nhờ thu, các 11 ngân hàng tham gia xử lý chứng từ do người bán gửi đến và hành động với vai trò là đại lý của người bán. Tuy nhiên, trong phương thức tín dụng chứng từ, các ngân hàng đã tham gia chủ động và tích cực hơn nhiều, theo đó các ngân hàng thực hiện trả tiền theo cam kết của mình. Theo đó, nghĩa vụ của Ngân hàng phát hành đối với người thụ hưởng là không hủy ngang và vô điều kiện (nghĩa là ngân hàng không được nêu lý do từ chối thanh toán nếu người bán đã tuân thủ đầy đủ các điều kiện của LC).2 Những rủi ro và biện pháp áp dụng các hình thức thanh toán quốc tế tại thành phố Hồ Chí Minh Đáp ứng nhu cầu thanh toán của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, dịch vụ thanh toán quốc tế của các ngân hàng tại thành phố Hồ Chí Minh ra đời và không ngừng hoàn thiện, mang lại cho khách hàng những tiện ích ngày càng cao.
- Dựa trên các phương thức thanh toán quốc tế thông dụng, các ngân hàng đã xây LV thạc sĩ Kinh tế dựng những sản phẩm cơ bản sau: o Nhập khẩu Chuyển tiền: mậu dịch và phi mậu dịch Nhờ thu: trả ngay (DP) và trả chậm (DA) Thư tín dụng: phát hành LC, ký hậu vận đơn/phát hành thư bảo lãnh nhận hàng, xử lý chứng từ và thực hiện thanh toán. Khi mở LC, ngân hàng sẽ yêu cầu doanh nghiệp phải ký quỹ một tỷ lệ nhất định, từ 0-100%.