CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LÀNG ĐẠI MỖ 1.Giới thuyết khái niệm 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa là sản phẩm đặc biệt của con người, là hệ quả của sự tiến hóa của nhân loại. Văn hóa bao gồm nhiều khía cạnh, nhiều nhân tố. Vì vậy, tùy từng điểm nhìn mà các nhà khoa học đã đưa ra rất nhiều định nghĩa về văn hóa.
Ở châu Âu, người đầu tiên đưa văn hóa vào trong khoa học là Pufendorf – nhà nghiê cứu pháp luật người Đức. Ông hiểu văn hóa là toàn bộ những gì do hoạt động xã hội của con người tạo ra. Kể từ thời Khai sáng ở Đức, nhà triết hoc Herder cho rằng: văn hóa là sự hình thành lần thứ hai của con người. Theo ông, con người xuất hiện lần thứ nhất như một thực thể tự sinh vật tự nhiên, lần thứ hai con người hình thành như một thực thể xã hội, tức là con người văn hóa theo nghĩa toàn vẹn của từ này.
Theo quan điểm này thì văn hóa nhân loại như là kết quả của sự phát triển, kể từ khi trái đất mới hình thành, cho đến khi các sinh vật xuất hiện và cuối cùng là co người văn hóa phát triển theo hướng nhân bản hóa. Đi từ tư tưởng của Mác và Ăng-ghen thì lao động sáng tạo chính là khởi điểm của văn hóa. Hai ông quan niệm căn cứ vào mức độ tự nhiên được con người biến thành bản chất người, tức là mức độ tự nhiên được con người khai thác, cải tạo thì có thể xét được trình độ văn hóa chung của con người. Nếu phương diện kinh tế của lao động là sự sản xuất ra của cải vật chất thì phương diện văn hóa của lao động chính là sự sáng tạo.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa có sự thống nhất với tư tưởng của của C.Mac và Ăng-ghen. Hồ Chí Minh cho rằng: “ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [27;tr. Như vậy, Hồ Chí Minh cũng xem lao động sáng tạo là cội nguồn của văn hóa.
Trần Ngọc Thêm định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác của con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [24;tr. Theo định nghĩa văn hóa của UNESCO được thông qua trong Bản tuyên bố về những chính sách văn hóa tại Hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì từ ngày 26 tháng 7 đến ngày 6 tháng 8 năm 1982 tại Mêhicô thì “ Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục và tín ngưỡng”[27;tr. Như vậy, lao động sáng tạo được coi là cội nguồn, khởi điểm của văn hóa, nhưng sáng tạo phải hướng về các giá trị nhân bản, nhằm hoàn thiện con người thì mới trở thành văn hóa đích thực.
Nói một cách chung nhất, văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, nhằm mục đích phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của cộng đồng loài người. Văn hóa được sáng tạo vì sự tiến bộ của loài người. Văn hóa vừa là khái niệm chỉ thuộc tính loài người, vừa là khái niệm chỉ trình độ và chất lượng sống của con người trong hoạt động thực tiễn xã hội. Văn hóa được biểu hiện sinh động và đa dạng trong những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, đặc biệt biểu hiện trong nhân cách, lối sống, nếp sống của cộng đồng xã hội, trong cách ứng xử của con người với tự nhiên, với xã hội và với bản thân mình.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khái niệm không gian văn hóa Theo Trần Quốc Vượng thì một vùng văn hóa là một tổng thể - hệ thống, một không gian văn hóa (cultural space) với một cấu trúc – hệ thống (structure – system) bao gồm các hệ dưới – hay tiểu hệ (sub-system) theo lối tiếp cận hệ thống (system – analysis)1 Theo quan điểm của Ngô Đức Thịnh, không gian văn hóa được hiểu theo hai nghĩa, cụ thể và trừu tượng: Theo ý nghĩa cụ thể, “không gian văn hóa là không gian địa lý xác định, mà ở đó một hiện tượng hay một tổ hợp hiện tượng văn hóa nảy sinh, tồn 1tại, biến đổi và chúng liên kết với nhau như một hệ thống. Trong đời sống xã hội của con người, ít khi một hiện tượng văn hóa nảy sinh, tồn tại và biến đổi một cách độc lập, mà chúng thường liên kết với nhau thành những tổ hợp. Có thể hiểu tổ hợp văn hóa như một hệ thống lớn nhỏ khác nhau, bao gồm nhiều hiện tượng liên kết với nhau như một thực thể hữu cơ…Với ý nghĩa như vậy, văn hóa tín ngưỡng tôn giáo, văn hóa vùng, văn hóa làng, văn hóa nghề nghiệp, văn hóa đô thị, văn hóa nông thôn…đều là những dạng khác nhau của tổ hợp văn hóa”[25;tr.
Theo nghĩa trừu tượng, không gian văn hóa là một “trường” để chỉ một hiện tượng hay tổ hợp các hiện tượng (một nền văn hóa của tộc người, quốc gia hay khu vực) có khả năng tiếp nhận và lan tỏa (ảnh hưởng), tạo cho nền văn hóa đó một không gian (trường) văn hóa rộng hay hẹp khác nhau. Cả hai nội dung không gian văn hóa trên đều tiếp cận văn hóa như một hệ thống của nhiều tiểu hệ thống có mối liên hệ chặt chẽ cả về thời gian và không gian. Không gian văn hóa làng Đại Mỗ chính là không gian sinh tồn của cư dân làng Đại Mỗ, nó gắn với vùng lãnh thổ mà dân làng Đại Mỗ sinh sống. Nói 1 Trần Quốc Vượng, Việt Nam cái nhìn địa văn hóa, NXB Văn hóa dân tộc, 1998 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cách khác, trong một không gian địa lý xác định, trong quá trình lịch sử lâu dài, trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định, trong các mối quan hệ và giao lưu văn hóa đã hình thành nên những đặc trưng của không gian văn hóa làng Đại Mỗ.
Không gian văn hóa đó được hiểu như một tổ hợp văn hóa cấu thành từ nhiều nhân tố, được biểu hiện rõ nét nhất thông qua những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, trong chính tính cách, nếp sống của cộng đồng dân cư làng Đại Mỗ. Xác định không gian văn hóa làng đòi hỏi ta phải xét đến các yếu tố liên quan đến tính trội văn hóa, vùng văn hóa. Tính trội văn hóa của một làng nằm trong nếp sống, phong tục, trong tính cách của dân cư làng đó, trong cách ứng xử của dân làng với nhau và với những làng xung quanh. Vùng văn hóa là vùng lãnh thổ có những nét tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên, dân cư có mối quan hệ về nguồn gốc và lịch sử, họ có sự tương đồng cả về trình độ phát triển kinh tế, xã hội.
Trong vùng có sự giao lưu và tiếp biến văn hóa, có sự tác động qua lại, từ đó hình thành nên những nét đặc trưng chung, thể hiện trong văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân, từ đó tạo nên sự khác biệt so với những vùng văn hóa khác. Những nhân tố cấu thành không gian văn hóa làng Đại Mỗ 1. Vị trí địa lý Xã Đại Mỗ nằm ở phía Nam huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội, tiếp giáp 7 xã, phường: Tây Mỗ, Mễ Trì, Trung Văn (thuộc huyện Từ Liêm), Văn Mỗ, Vạn Phúc, Dương Nội (thuộc quận Hà Đông). Từ điểm cực Bắc xuống điểm cực Nam 3,7km, từ điểm cực Tây sang điểm cực Đông 3,5km.
Diện tích đất tự nhiên là 4,753km2. Làng Đại Mỗ ngày nay là một trong bốn thôn (làng) của xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm. Phía Bắc giáp làng Tây Mỗ và Phú Thứ, phía Đông giáp làng An Thái và Ngọc Trục, cùng thuộc xã Đại Mỗ, phía Nam giáp làng La Cả 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đại Mỗ có 2km sông Nhuệ chảy qua.
Sông Nhuệ đóng vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực, ảnh hưởng đến cuộc sống của dân làng, đem lại nhiều nguồn lợi: tưới, tiêu, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Ngày nay, sông Nhuệ đã gần như thành một dòng sông chết do ô nhiễm nặng nề, ảnh hưởng nghiêm trọng đến mỹ quan và môi trường trong khu vực. Đại Mỗ ở vào vị trí giao thông thủy bộ rất thuận lợi: có sông Nhuệ và đường cổ Cầu Đôi – Cót ở phía Đông, Quốc lộ 72 từ Hà Đông đi Quốc Oai ở phía Nam, và Quốc lộ 70 Mỗ- Nhổn, chia làng làm hai phần. Vòng ngoài làng là các quốc lộ gồm đường 32 Hà Nội – Sơn Tây, đường Láng – Hòa Lạc mới hoàn thành năm 1999, càng làm cho việc thông thương của làng thêm mở.
Làng cách trung tâm Hà Nội 15km, cách trung tâm quận Hà Đông 3 km. Điều kiện tự nhiên Đại Mỗ đã trải qua nhiều quá trình biến chuyển trong lịch sử mới trở thành một vùng đất như hiện nay. Khoảng trên 3000 năm trước đây, vùng đất Đại Mỗ và toàn bộ châu thổ sông Hồng còn ngập trong nước biển. Như vậy, thời Hùng Vương xa xưa, Đại Mỗ chưa được khai phá, chưa có dân cư sinh sống.
Dần về sau, quá trình tiến thoái của mực nước biển, do cấu tạo địa chất, do tác động của địa chấn và sự bồi đắp không đều của phù sa, địa hình xã Đại Mỗ có xu hướng nghiêng dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông. Đất đai xã Đại Mỗ có thể chia thành hai phần. Phần phía Bắc và Tây Nam chiếm khoảng 2/3 diện tích toàn xã, có địa thế cao, gồm ba làng An Thái, Giao Quang và Đại Mỗ. Trong đó, Đại Mỗ bao gồm 4 thôn là khu vực luận văn triển khai nghiên cứu.
Với đặc điểm địa hình này, cư dân ở đây có 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lợi thế cả về cư trú lẫn canh tác: làng xóm cao ráo, ruộng đồng ít bị úng ngập, thuận lợi cho việc trồng lúa và hoa màu. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, người dân làng Đại Mỗ đã cần cù trong lao động, sáng tạo trong sản xuất để xây dựng quê hương trù phú như hiện nay.