CHƯƠNG 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1, Giới thiệu về hoa lan và vai trò được liệu của nó 1. Giới thiệu về hoa lan Trong thế giới các loài hoa, hoa lan có khoảng 800 chỉ và 30.000 loài khác nhau [6]. Họ phong lan Orchidaceae là một trong những họ lớn nhất chiếm 10% số loài [66]. Hầu hết mọi môi trường sống trên trái đất đều có phong lan sinh sống, điều đó chứng tỏ họ phong lan có một vai trò đáng kể đối với hệ sinh thái và quá trình tiến hóa của sinh giới [47].
Hoa phong lan mọc trên thân các cây khác, một số loài khác là bán địa lanmọc trên mặt đất hay xác cây đang phân hủy. Hoa phong lan có hai dạng kích thước khác nhau. Các loài phong lan như ?Jølaenopsis có thân cây khá ngắn hoặc có thể đạt vài chục em giống như một số chỉ như Vandas, Renantheras hoặc Vanilia và các loài phong lan khác chẳng hạn như Cøwleyas, Oncidiums, Cymbidium, Paphiopedilum có chiều cao thân cây dài hơn. Hoa lan có giá trị cao về thương mại vì hoa của chúng có nhiều màu sắc, hình dạng, kích cỡ và mùi thơm, với tuổi thọ của hoa dài ngày [52].
Sự phân bố và sự phong phú của quần thể phong lan phụ thuộc vào các yếu tố sinh học và sinh thái, bên cạnh đó chất lượng hạt giống, sự xuất hiện của nấm mốc và các điều kiện môi trường thích hợp cũng ảnh hưởng đến sự phân bố và sự phong phú của loài cây này trong tự nhiên [54]. Việt Nam là một trung tâm đa dạng và đặc hữu lan rất quan trong ở vùng Đông Nam Á với khoảng 137 - 140 chỉ lan rừng [12]. Ở Việt Nam họ Lan có 29 chỉ (mỗi chỉ có từ 5 - 18 loài, chiếm 26,2%), 17 chỉ (mỗi chỉ có 4 loài, chiếm 7,6%), 14 chỉ (mỗi chỉ có 3 loài, chiếm 4,7%), 22 chỉ (mỗi chỉ có 2 loài, chiếm 4,9%) và 60 chỉ (mỗi chỉ có 1 loài, chiếm 6,7%). Phần lớn các loài lan đang bị tuyệt chủng và đang bị thu hái nhiều để bán làm cây cảnh ở trong nước cũng như xuất khẩu ra nước ngoài.
Nhiều loài đặc hữu đang cần được bảo tồn đặc biệt ở mức cao nhất, nếu không chúng. sẽ bị tiêu diệt trong một tương lai rất gần. Trong số đó có lan Gam Ludisia discolor (Ker - Gawl.Rich và nhiều loài trước đây vốn gặp phổ biến nhưng đã nhanh chóng trở nên hiếm do bị thu háiđể xuất khẩu sang các nước khác làm thuốc. Hơn nữa, việc khai thác không có sự kiểm soát của các cơ quan có thẩm quyền thì loài đó có thể bị tuyệt chủng [65] 1.
Vai trò được liệu cña cây lan 'Từ hàng ngàn năm nay thực vật đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc chăm sóc và chữa bệnh cho con người. Hiện nay, đã có đến 35.000 loài được sử dụng, 4 làm thuốc. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 1993), uéc tính có khoảng 70-80% dân số trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triỂn, sử dụng chủ yếu các loài thảo dược truyền thống để bảo vệ sức khỏe [31]. Hoa lan dùng làm thuốc chủ yếu thuộc về các chỉ: Gastrodia, Eulophia, Orchis, Vanda, Calanthe, Coelogyne, Cymbidium, Cypipedium, Dendrobium, Ephemerantha, Eria, Galeola, Gastrodia, Gymnadenia, Habenaria, Ludisia, Luisia, Nevilia và Thunia [34], [32], [46].
Các hợp chiết xuất từ các bộ phận của hoa lan được sử dụng trong ngăn ngừa bệnh do vi khuẩn, kháng khuẩn, kháng viêm, kháng virus và ức chế khối u [32] [39]. Kháng lại một số loài vi khuẩn như Zschericlươ coli, Staphylococcus aureus, Bacillus pumilus, Pseudomonas aeruginosa va Pseudomonas putida [64]. Bột rễ cây Orchis mascula L, giúp điều trị tiêu chảy mãn tính va bệnh ly, nó cũng được sử dụng để chữa chứng rối loạn thần kinh, thần kinh suy nhược và là một trong những phương thuốc giúp kích thích tình dục, giúp kiểm soát bệnh tiểu đường [33]. Chiết xuất từ đoạn thân loài Dendrobium pulchellum cô lập được 4 loại bibenzyl: chrysotobibenzyl; chrysotoxine; erepidatin và moscatilin có tác dụng ức chế sự tăng trưởng của các tế bào ung thư phổi, ức chế di căn của các tế bào ung thư, mở ra một cách tiếp cận quan trọng cho sản xuất thuốc chống lại ung thư [35].
Năm 2005, Xia va es đã công bố dịch chiết được phân lập từ củ cla loai Cremastra appendiculata (D. Don) Makino có tác dụng chữa trị các dòng ung thư ác tính ở người như ung thư đại tràng (HTC-8), ung thir gan (Bel7402), ung th da diy (BGC-823), ung thư phổi (A549), ung thư vú (MCF-7) và ung thư buồng trứng (A2780) [67]. Nam 2012, Liu va es đã cô lập từ thân củ loài 4z»dinagramin//oliađược sáu hợp chất là dẫn xuất của bibenzyl có tác dụng chống lại các tế bào ung thư ác tính [51]. Denbinobin (5-hydroxy- 3,7-dimethoxy- 1.4-phenanthraquinone) là một hoạt chat sinh học được phân lập từ loài Ephemeramtha lonchoplylla giúp chống lại đáng kể sự di căn của các tế bào ung thư vú, cho thấy khả năng chữa trị căn bệnh này [36].
Nhiều hóa chất thực vật khác đã được tìm thấy từ các loài phong lan. 2, 6- dimetoxy-1, 4 benzoquinone được báo cáo là có phản ứng dị ứng được phân lập từ Cymbidium sp [44]. Habenariol đã được phân lập từ #iabenaria repems, ức chế sự peroxy lipid của con người khi nồng độ lipoprotein thấp [48]. Gastrol có tác dụng giãn cơ trơn trong các sản phẩm từ hồi tràng chuột đã được phân lập từ thân rễ của.
Nidemin vi 9,19-Cyclolanosta-24,24- dimethyl-25-en-3B-YL- trans-p-hydroxycinnamate đã duge phan lap tir Scaphyglomis livida va Nidema boothi [38]. Ferulates alkyl véi tính antiooxidatve đã được phân lập từ methanol chiết xuất từ Dendrobium monoliforme [50 1. Giới thiệu về lan Gắm 1. Giới thiệu chung Tén khoa hoe: Ludista discolor (Ker - Gawl.Rich Chi Ludisia Hg lan Orchidaceae Bộ lan Asparagales a.
Đặc điểm sinh học. Lan Gắm hay còn gọi là Thạch tằm là cây thảo ký sinh. Thân mềm mọng nước, phần dưới mọc bò, bén rễ ở các mấu, phần trên mọc đứng, cây cao 15-25em, hơi có lông. Lá mọc so le, hình bầu đục hoặc hình trứng, đài 5-10cm, rong 2,5-3,5 cm, gốc tròn, đầu hơi nhọn, mặt trên màu xanh lục, đôi khi màu tia, mặt dưới màu hồng tím, gân chính 3-5, hình cung; cuống lá dài, có bẹ ở gốc.
Cụm hoa mọc ở ngọn thân thành bông dai 3-8cm, có lông dày đặc; lá bắc màu nâu vàng; hoa màu trắng; lá đài lưng dính liền với cánh hoa thành mũ có 3 răng, lá đài bên rời nhau; cánh môi màu vàng hình chữ T, cột dài bằng bao phấn; bẩu có long, qua nang [4] b, Về sinh thái Lan Gắm ra hoa từ tháng 2 đến tháng 4, thơm và tàn trong 2 tuần, là cây đặc biệt ưa ẩm và ưa bóng, thường mọc rải rác hoặc thành đám nhỏ lẫn trong lớp thảm mục hoặc ở hốc sườn núi, bám trên đá granit đưới tán rừng quanh thung lũng suối, nơi có min ẩm, tái sinh bằng hạt và chồi. e Về phản bố Cây lan Gắm thường sinh sống ở khu vực ẩm ướt dọc theo các thung lũng trong rừng lá rộng thường xanh, trên vùng đất có nhiều mùn lá rụng, lớp đất đá có phủ rêu [33]. Lan Gắm phân bố ở một số nước châu Á như: Indonesia (Anambas va quần đảo 'Natoena), Malaysia, Thái Lan, Miến Điện, Việt Nam, Trung Quốc, Philippines [56]. Ở 'Việt Nam, lan Gắm phân bố chủ yếu tại một số địa phương như Lào Cai (Sa Pa), Vĩnh Phúc (Tam Đảo 3), Hà Tây (Ba Vì), Thừa Thiên - Huế (Bạch Mã), Đà Nẵng, Quảng Nam (Cù Lao Chàm), Khánh Hòa (Phú Hữu), Đăk Lắc, Lâm Đồng (Baika, Đà Lạt), Ninh Thuận (Cà Ná), Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu (Côn Đảo) [12].
Tại Đà Nẵng lan Gam phân bố Bà Nà (Suối mơ, Chóp nón), ở độ cao 268-384m, Bán đảo Sơn Trà (Suối ôm) độ caol6m-175m [29] 4 Giá trị được liệu Lan Gắm dùng làm thuốc, người ta thu hái toàn cây quanh năm, dùng tươi hay phơi khô dùng dần. Theo Đông y, Lan Gắm có vị nhạt, hơi chát, tính mát; có tác dụng tư âm nhuận phế, kiện tỳ, an thần, làm mát phổi, mát máu, sinh tân dịch, tiêu viêm, lọc máu. Thường dùng để chữa lao phổi, khạc ra máu, thần kinh suy nhược, chán ăn. Liều dùng dược liệu khô 3-9g, tươi 10-20g, dạng thuốc sắc.
Đau dạ dày: Thạch tàm 20 sắc uống. Chữa phổi kết hạch, khạc ra máu, thần kinh suy nhược, kém ăn, ít ngủ, tỉnh thần tiều tụy: Thạch tàm, Mạch môn, Huyền sâm, Ngưu tất, Quyết minh tử (sao), Hoài sơn, mỗi vị 20g, sắc uống. Chữa viêm phế quản, ho: Thạch tằm, Lan củ đây (Bulbophylum concinnum), Ngọc trúc, Bách bộ, mỗi vị 20g, sắc uống [4] 1. Các nghiên cứu về lan Gắm Các nhà khoa học trên thế giới và tại Việt Nam đã nghiên cứu về quá trình nhân nhanh loài cây lan Gắm trong điều kiện ở phòng thí nghiệm và khả năng sinh trưởng của chúng ngoài vườn ươm, trong đó có các nghiên cứu: sa.
Các nghiên cứu trong nước Phùng Văn Phê và cộng sự (2010) nghiên cứu môi trường phù hợp nhất để nhân. nhanh chồi lan kim tuyến - Anoectochilus roxburghii (Wall.) Lind in vitro la Knudson C. Thể chồi 8 tuần tuổi từ phôi hạt chin, cao 2-3 cm là phù hợp nhất để nhân nhanh trong môi trường có bỗ sung 0,5ppm BAP+0,3ppm Kinetin+0,3ppmNAA [19]. Nguyễn Quang Thạch, Phí Thị Cắm miện (2012) nghiên cứu xác định môi trường.
thích hợp nhất để nhân nhanh thể chồi và mắt đốt ngang thân lan Kim Tuyến - Anoectochilus setaceus Blum là Knudson C bổ sung 0,5 ppm BAP+0,3Kinetin+0,3ppm NAA [24], [17]. Nguyễn Thị Mỹ Phượng, 2015 nghiên cứu môi trường MS có 3%saccharosc, 0,8% agar, 0,5 g/l AC bé sung 3 mg/L BA + 0,4 mg/L NAA thích hợp cho nhân nhanh chỗi //o cây lan gắm. Môi trường MS có 3%saccharose, 0,8% agar, 0,5 g/1 AC bé sung 0,1 mg/L NAA thích hợp cho tạo rễ ¡zi/ro cây lan gắm. Giá thể xơ dừa.
có bón bổ sung phân NPK với tỷ lệ phối trộn 30:10:10 cho cây lan Gắm sinh trưởng tốt nhất [20], Trung tâm Công nghệ sinh học Đà Nẵng (2016) đã nghiên cứu quy trình nhân. giống in vitro cây lan Gdm Ludisia discolor (Ker-Gawl. Mẫu lan Gam khử. tring kép Javel 20% trong 15° va lic Thiy ngan HgCl2 0,1% trong 15° cho tỷ lệ mẫu sống đạt 46,7%.
Môi trường MS có bổ sung 30g/1 đường, 1g/1 Than hoạt tính, 8g/1 agar cho tỷ lệ mẫu tạo chồi đạt 63,3%; môi trường thích hợp cho quá trình tạo cum chdi là môi trường MS có bổ sung BAP Img/1 kết hợp 1g/1 than hoạt tính. 10% nước đừa đạt 53,3 % số lượng mẫu tạo cụm chồi, tỷ lệ ra rễ đạt 97,78% và số rễ trên mẫu 3,1 trên môi trường MS bổ sung Img/INAA+1g/I Than hoạt tín 30g/1 đường, 8g/1 agar.