CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Khái niệm về cấu trúc câu trong tiếng Anh Bùi Ý - Vũ Thanh Phương [33, 462] cho rằng “một câu đơn trong tiếng Anh gồm hai bộ chính là chủ ngữ (Subject) và vị ngữ (Predicate). Vị ngữ phải là một động từ (hay cụm động từ) ở dạng đã chia và tuỳ theo loại động từ mà nó đòi hỏi phải có tân ngữ (Object) hoặc bổ ngữ (Complement). Đó là những thành phần chủ yếu trong kết cấu câu tiếng Anh.
Những câu chỉ gồm những thành phần chủ yếu đó là câu hạt nhân (Kernel sentence) hay cấu trúc hạt nhân. Ngoài ra, câu còn có những thành phần thứ yếu là trạng ngữ (Adverbial modifier) và tính ngữ (adjective modifier )”. Các tác giả này đã tóm tắt các mẫu cấu trúc câu cơ bản trong tiếng Anh như sau: [1] Trường hợp câu chỉ có những thành phần chủ yếu (gọi là câu hạt nhân hay câu tối thiểu). Subject Predicate Verb Object or Complement (1) She is a teacher.
Cô ấy là giáo viên (2) He is running. Anh ấy đang chạy (3) The boy opened the door. Cậu bé mở cửa (4) We speak English. Chúng tôi nói tiếng Anh.
(5) That men is my brother. Người đàn ông kia là anh trai tôi (6) They will become workers. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Họ sẽ trở thành công nhân. [2] Trường hợp câu có thêm những thành phần thứ yếu (gọi là câu mở rộng.) Subject Predicate Subject + Adjective Verb Object / Adverbial modifier Modifier Complement (7) The green door is opened at once.
Chiếc cửa màu xanh mở ngay lập tức. (8) A little boy is running in the street. Một cậu bé đang chạy trên đường phố. (9) The boy in the blue hat opened the back door this morning.
Cậu bé đội mũ xanh mở cửa sau lúc sang dậy. (10) We all in this class speak English. Tất cả chúng ta trong lớp này nói tiếng Anh khá tốt. (11) These young men will become factory workers next year.
Những thanh niên này sẽ trở thành công nhân vào sang năm. [33, 15] Tác giả Lê Dũng [11, 241] cũng đồng quan điểm với các tác giả trên. Ông cho rằng: “Câu có thể là một nhóm từ (có khi là một từ đơn lẻ) tạo thành nghĩa đầy đủ ”. Nhóm từ này có chứa một động từ đã chia (finite verb) và chủ ngữ của nó.
Đây chính là định nghĩa về câu đơn ( simple sentence): (12) The little boy looks very happy. (Cậu bé nhìn rất hạnh phúc.) (13) John gets up very early in the morning. (John thức dậy rất sớm vào buổi sáng.) 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.G Alexander, tác giả cuốn “ Longman English Grammar” cho rằng: “Trong tiếng Anh, đơn vị nhỏ nhất là câu đơn. Câu đơn thường có một động từ có ngôi (one finite verb), có một chủ ngữ (subject) và một vị ngữ (predicate)”.
Ví dụ: Subject Verb group (Predicate) (14) I have eaten. (15) One of our aircraft is mising. Một trong những cái máy bay của chúng ta đang mất liên lạc. (16) The old building opposite our school is being pulled down.
Toà nhà cũ đối diện trường chúng tôi đang bị phá đổ. [26, 10] Randolph Quirk và Greenbaum, tác giả cuốn “ A University Grammar of English” cũng đồng quan điểm với L.G Alexander khi họ cho rằng câu gồm hai thành phần chính là chủ ngữ (Subject ) và vị ngữ ( Predicate), tương ứng với hai thành phần của một phán đoán logic là chủ thể (Subject) và vị thể (Predicate). Ví dụ: Subject Predicate (17) John carefully searched the room. John lục soát căn phòng một cách cẩn thận.
(18) The girl is now a student at a large university. Hiện giờ cô gái này là sinh viên của một trường đại học lớn. (19) His brother grew happier gradually. Anh trai nó dần dần trở nên vui vẻ hơn.
(20) It rained steadily all day. Trời mưa dữ dội suốt ngày. (21) He had given the girl an apple. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nó đã đưa cho cô gái một quả táo.
(22) They make him the chairman every year. Hàng năm họ bầu ông ta làm chủ tịch. Ví dụ: Câu hạt nhân: The teacher arrived. (Thầy giáo tới) Câu mở rộng: The new teacher of our class, a grey - haired man of fifty - two arrived in Ha Noi at ten o’clock yesterday.
(Thầy giáo mới của lớp chúng tôi, 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com một người tóc bạc, năm mươi hai tuổi đã đến Hà Nội lúc mười giờ sang hôm qua). Qua những phân tích trên, chúng tôi cũng thống nhất với quan điểm của các tác giả khi cho rằng: cấu trúc câu tiếng Anh bao gồm hai thành phần chính là chủ ngữ và vị ngữ, còn trạng ngữ, tính ngữ là thành phần thứ yếu, thêm vào thì rõ ý hơn, nhưng không có chúng câu vẫn đủ nghĩa. Trong khuôn khổ luận văn này chúng tôi đề cập đến một yếu tố trong thành phần thứ yếu của câu, đó là tính từ. Đặc biệt hơn là chúng tôi khảo sát vai trò của tính từ trong câu tiếng Anh (có đối chiếu tương đương với tiếng Việt).
Khái niệm về từ loại trong tiếng Anh và tiếng Việt Các khái niệm về từ loại và cấu trúc câu trong tiếng Anh có những điểm giống tiếng Việt, nhưng do đặc điểm riêng của từng ngôn ngữ, nên tất nhiên cũng có nhiều điểm khác. Thí dụ những khái niệm chung về danh từ, động từ, tính từ, chủ ngữ, vị ngữ, nhưng đi vào chi tiết cấu tạo, chức năng, vị trí v.thì khác nhau nhiều. Có những khái niệm chỉ tiếng Anh có mà tiếng Việt không có như cách sở hữu của danh từ, thì của động từ, động tính từ, động danh từ v.v… Theo tác giả Lê Dũng tiếng Anh có tám từ loại: - Danh từ (noun) - Đại từ (pronoun) - Động từ (verb) - Tính từ (adjective) - Phó từ hay trạng từ (adverb) - Giới từ (preposition) - Liên từ (conjunction) - Thán từ (interjecton) Mỗi từ loại đảm nhận một công việc riêng biệt trong câu. Các từ loại được phân chia dựa theo chức năng (function) và (hình thức).
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phân chia từ loại theo chức năng: Phân chia từ loại theo chức năng là dựa vào công việc mà từ đảm nhận trong câu. Vì một từ có thể đảm nhận nhiều công việc khác nhau nên nó có thể thuộc một từ loại trong câu này nhưng lại thuộc về một từ loại khác trong câu khác. Chúng ta hãy xem từ “well” trong những câu sau đây.
Ví dụ: (29) He works well. Phó từ Anh ấy làm việc giỏi. (30) I do not feel well. Tính từ Tôi cảm thấy không được khoẻ.
(31) Tears well from her eyes. Động từ Nước mắt chảy từ đôi mắt của nàng. (32) Well, I think so. Thán từ À, Tôi cũng nghĩ như vậy.
[11, 5] Từ “man” trong các ví sau cũng được dùng như danh từ, tính từ và thán từ. (33) Man needs food and shelter. Danh từ Con người cần thức ăn và chỗ ở. (34) The restaurant has a man cook.
Tính từ Tiệm ăn có một đầu bếp nam. (35) Man! That was good. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thán từ A! thật là tuyệt. Phân chia từ loại theo hình thức: Phân chia từ loại theo hình thức là dựa vào các tiếp tố (affix) gắn với từ, nếu có.
Nhờ đó, chúng ta có thể ít nhiều đoán được một từ thuộc loại từ nào, ví dụ: - Danh từ với –ist, -dom, -ness, -ship, -red: Artist Freedom Darkness Hardship (hoạ sỹ) (tự do) (bong tối) (nỗi gian truân) Dramatist Wisdom Sweetness Friendship (nhà soạn kịch) (sự thông thái) (sự ngọt ngào) (tình bạn) - Động từ với –ed, -ing, -en, -ize, -fy, -ate: Changed Weaken Modernize Purify (đã thay đổi) (làm cho yếu) (giảm thiểu) (làm cho tinh khiết) Walked Sweeten Minimize Simplify (đã đi bộ) (làm cho ngọt) (giảm thiếu) (làm cho đơn giản) - Tính từ với –ous, -ed, -en, -less, -ly, -ful. Famous Talented Wooden Fearless (nổi tiếng) (có tài) (bằng gỗ) (không sợ hãi) Continous Learned Woollen Hopeless (tiếp diễn) (có học) (bằng len) (không hy vọng) Người ta thường phân chia tám từ loại nêu trên thành hai nhóm lớn: - Open word classes: (từ loại có thể nhận thêm từ mới) gồm có: danh từ, động từ, tính từ và phó từ. Số lượng mỗi từ loại thuộc nhóm này có thể từ một vài nghìn đến cả trăm nghìn từ. Nhóm này bao gồm các content word, là những từ 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mang nghĩa nội dung hay nghĩa từ điển (lexical meaning) như home (nhà ở, quê hương), bridge (cây cầu), slowly (chậm chạp).
- Close word classes: (từ loại có số lượng từ giới hạn) gồm đại từ, giới từ, liên từ và thán từ. Số lượng mỗi từ loại thuộc nhóm này chỉ từ vài từ đến vài mười từ và rất it khi nhận thêm từ mới. Nhóm này bao gồm các function word, là những từ ít mang nghĩa nội dung nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong quan hệ cú pháp của câu, như on (ở trên), beside (bên cạnh), he (ông ấy), anh (và). [11, 6 ] Như đã phân tích ở trên, có rất nhiều cách phân loại, nhưng theo ngữ pháp truyền thống Anh, các tác giả Bùi Ý - Vũ Thanh Phương đều có quan điểm như tác giả Lê Dũng.
Còn ở ngữ pháp của tiếng Việt, tác giả Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung lại cho rằng việc phân định từ loại tiếng Việt được dựa vào tập hợp ba tiêu chuẩn: (1) ý nghĩa - từ vựng ngữ pháp khái quát có tính chất phạm trù của từ, (2) khả năng kết hợp của từ, và (3) chức năng cú pháp chủ yếu của từ. Và hệ thống từ loại tiếng Việt có thể sắp xếp thành hai nhóm bao gồm những từ loại sau: Nhóm 1: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ Nhóm 2: phụ từ (định từ, phó từ); kết từ; tiểu từ (trợ từ và tình thái từ) Danh từ, động từ, tính từ, là ba từ loại cơ bản, chiếm số lượng lớn nhất và thể hiện tương đối đầy đủ và rõ rệt nhất các tiêu chuẩn phân loại. Về mặt ý nghĩa, chúng có bản chất từ vựng - ngữ pháp, trực tiếp phản ánh các nội dung ý nghĩa từ vựng khái quát có tính vật thể, hành động, trạng thái hoặc phẩm chất thành các đặc trưng phân loại. Về khả năng kết hợp, chúng có thể làm thành tố chính - trung tâm ngữ nghĩa - ngữ pháp - trong một kết hơp từ, với các từ làm thành tố phụ đứng xung quanh.
Về chức năng cú pháp, danh từ, động từ, tính từ có khả năng tạo câu và đảm nhiệm hầu hết các thành phần ở mọi ví trí trong cấu tạo câu. Số từ phản ánh nội dung ý nghĩa số lượng có tính chất thực, gần gũi với danh từ, động từ, tính từ.