Nghiên cứu động lực học của sóng sau đới sóng đổ tại bãi biển Nha Trang

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu động lực học sóng sau đới sóng đổ tại bãi biển Nha Trang, cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiện tượng tự nhiên này.

Chuyên ngành

Hải dương học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học

2015

70
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÙNG SÓNG VỠ VÀ SÓNG TRÀN

1.1. Giới thiệu về vùng sóng tràn (swash zone)

1.2. Các khu vực gần bờ

1.3. Sóng và sóng gây ra sóng tràn

1.4. Chu kỳ sóng tràn

1.5. Chu kỳ sóng tràn bất đối xứng

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÙNG SÓNG VỠ VÀ SÓNG TRÀN

2.1. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu khảo sát

2.2. Khảo sát thực địa

2.3. Phương pháp xử lý số liệu Vectrino

2.4. Phương pháp đồng bộ số liệu Vectrino và số liệu Video

2.5. Mô hình Dam-Break

2.5.1. Lý do chọn mô hình Dam-break

2.5.2. Giới thiệu mô hình Dam-break

2.5.3. Mô hình dòng chảy nước nông

2.6. Tổng quan khu vực vịnh Nha Trang

2.6.1. Vị trí địa lí

2.6.2. Đặc điểm gió

2.6.3. Đặc điểm dòng chảy

2.6.4. Đặc điểm thủy triều và dao động mực nước

2.6.5. Đặc điểm chế độ sóng

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ TÍNH TOÁN TẠI BÃI BIỂN NHA TRANG

3.1. Kết quả phân tích trường dòng chảy trong vùng sóng vỡ và sóng tràn

3.2. Phân bố năng lượng rối trong vùng sóng vỡ và sóng tràn

3.3. Mối quan hệ giữa độ cao sóng ngoài khơi và chiều cao bore sóng tràn

3.4. Mô phỏng vận tốc bore nước bằng mô hình số Dam-break

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu động lực học sóng tại bãi biển Nha Trang

Bãi biển Nha Trang, nổi tiếng với vẻ đẹp tự nhiên và là điểm đến du lịch hấp dẫn, cũng là nơi diễn ra nhiều nghiên cứu về động lực học sóng. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về các hiện tượng tự nhiên mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Đặc biệt, việc nghiên cứu sóng biển tại đây giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự biến đổi của bãi biển và các công trình ven biển.

1.1. Đặc điểm địa lý và khí hậu của bãi biển Nha Trang

Bãi biển Nha Trang nằm ở tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam, với chiều dài bờ biển khoảng 7 km. Đặc điểm khí hậu nơi đây ảnh hưởng lớn đến động lực học sóng. Mùa mưa và mùa khô tạo ra sự khác biệt trong cường độ và hướng gió, từ đó ảnh hưởng đến sóng biển.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu động lực học sóng

Nghiên cứu động lực học sóng tại bãi biển Nha Trang không chỉ giúp hiểu rõ hơn về các hiện tượng tự nhiên mà còn hỗ trợ trong việc phát triển các giải pháp bảo vệ bờ biển, giảm thiểu xói lở và bảo vệ các công trình ven biển.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu động lực học sóng

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về động lực học sóng, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần giải quyết. Các yếu tố như biến đổi khí hậu, sự phát triển đô thị và hoạt động du lịch đều ảnh hưởng đến sóng biển và môi trường ven biển. Việc xác định các yếu tố này là rất quan trọng để đưa ra các giải pháp hiệu quả.

2.1. Biến đổi khí hậu và tác động đến sóng biển

Biến đổi khí hậu dẫn đến sự thay đổi trong mô hình thời tiết, ảnh hưởng đến cường độ và tần suất của sóng biển. Điều này có thể gây ra xói lở bờ biển và thay đổi hình thái bãi biển.

2.2. Tác động của hoạt động con người đến động lực học sóng

Hoạt động xây dựng và phát triển đô thị ven biển có thể làm thay đổi dòng chảy và động lực học sóng. Việc nghiên cứu các tác động này là cần thiết để bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

III. Phương pháp nghiên cứu động lực học sóng tại bãi biển Nha Trang

Nghiên cứu động lực học sóng tại bãi biển Nha Trang sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm khảo sát thực địa, mô hình hóa và phân tích số liệu. Các phương pháp này giúp thu thập thông tin chính xác về sóng biển và các yếu tố liên quan.

3.1. Khảo sát thực địa và thu thập số liệu

Khảo sát thực địa được thực hiện để thu thập số liệu về sóng biển và dòng chảy. Sử dụng thiết bị đo đạc hiện đại như Vectrino ADV giúp cung cấp dữ liệu chính xác về các thông số động lực học.

3.2. Mô hình hóa và phân tích số liệu

Mô hình hóa động lực học sóng giúp dự đoán các hiện tượng sóng và dòng chảy. Phân tích số liệu từ các mô hình này cho phép hiểu rõ hơn về các quá trình diễn ra trong vùng sóng vỡ và sóng tràn.

IV. Kết quả nghiên cứu động lực học sóng tại bãi biển Nha Trang

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự tương quan giữa độ cao sóng ngoài khơi và chiều cao bore sóng tràn. Các mô hình số đã được áp dụng để mô phỏng vận tốc bore nước, cho thấy khả năng ứng dụng của mô hình vỡ đập trong nghiên cứu động lực học sóng.

4.1. Phân tích trường dòng chảy trong vùng sóng vỡ

Kết quả phân tích cho thấy dòng chảy trong vùng sóng vỡ có sự biến đổi mạnh mẽ, ảnh hưởng đến quá trình vận chuyển trầm tích và hình thái bãi biển.

4.2. Mối quan hệ giữa độ cao sóng và chiều cao bore

Nghiên cứu chỉ ra rằng có mối quan hệ chặt chẽ giữa độ cao sóng ngoài khơi và chiều cao bore sóng tràn, điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc dự đoán các hiện tượng sóng tại bãi biển.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu động lực học sóng

Nghiên cứu động lực học sóng tại bãi biển Nha Trang đã cung cấp nhiều thông tin quý giá về các hiện tượng sóng và dòng chảy. Tương lai của nghiên cứu này cần tiếp tục được mở rộng để giải quyết các vấn đề liên quan đến biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.

5.1. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc phát triển các mô hình dự đoán chính xác hơn về sóng biển và tác động của chúng đến môi trường ven biển.

5.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng trong việc xây dựng các công trình bảo vệ bờ biển, giảm thiểu xói lở và bảo vệ môi trường tự nhiên.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu động lực học của sóng sau đới sóng đổ tại bãi biển nha trang

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 - TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÙNG SÓNG VỠ VÀ SÓNG TRÀN 1. Giới thiệu về vùng sóng tràn (swash zone) 1. Giới thiệu chung Vùng sóng tràn (swash zone) là một bộ phận của biển mà khoảng rộng từ giới hạn sóng bắt đầu vỡ cho đến giới hạn cao nhất mà nước biển có thể đi lên. Đây là một khu vực rất biến động và phức tạp, nơi xảy ra các quá trình thủy động lực học và hình thái học khác nhau.

Quá trình lan truyền sóng từ ngoài khơi vào bờ. Đới sóng tràn là nơi tiếp giáp trực tiếp giữa đất liền và biển. Đây là dải hẹp và nhiều biến động cũng như rất phức tạp của các quá trình thủy động lực học. Tuy nhiên, sự thay đổi đường bờ, bãi biển chính là kết quả của các quá trình rối, quá trình vận chuyển trầm tích.

cũng như các tác động trực tiếp của sóng. Chính sự thay đổi này định hình nên địa mạo của các bãi biển. Do gia tăng sự tương tác giữa chuyển động của các hạt nước và đáy đã tạo ra sự thay đổi đặc điểm của sóng trong quá trình truyền sóng về phía bờ biển. Vùng sóng vỡ và sóng tràn phụ thuộc vào điều kiện của thủy triều và sóng.

Khu vực nằm giữa vùng sóng vỡ cho đến giới hạn cao nhất mà nước biển có thể đi lên bao gồm hai vùng: - Vùng sóng vỡ: Từ vị trí sóng bắt đầu đổ khi truyền vào bờ đến vùng được giới hạn bởi mép nước biển (thay đổi theo mực nước thủy triều), thông thường ở độ sâu từ 5 ÷ 10 m. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Vùng sóng tràn: Là vùng sóng tác động lên vùng bờ dưới dạng dao động mực nước, nó nằm giữa mép nước biển (thay đổi theo mực nước thủy triều) với vùng sóng tràn và sóng rút. Đặc điểm chính của một bãi biển (bên trái) và của phần đất bồi ở biển (bên phải) (Masselink & Hughes 2003). Vùng sóng tràn là một phần đặc biệt của bãi biển mà liên tục khô và ướt do hiện tượng dao động mực nước của biển.

Theo Short (1999) định nghĩa vùng sóng tràn là một phần của bãi biển nằm giữa giới hạn thấp của pha nước đi xuống và giới hạn trên của pha nước đi lên trên bãi biển. Short (1999) đã mô tả hai đặc điểm bổ sung làm cho hình thái động lực vùng sóng tràn độc đáo so với phần còn lại của bãi biển. Đầu tiên có một thực tế là độ sâu nước trong sóng tràn có thể rất nhỏ, đặc biệt trong pha nước đi xuống, dẫn đến một tình huống dòng chảy phức tạp. Thứ hai, một phần của đáy trong vùng sóng tràn là không bão hòa gây nên sự xâm nhập của nước ở phía dưới đáy, đây là một khía cạnh quan trọng liên quan đến vận chuyển bùn cát.

Các nhà khoa học trên thế giới đã chứng minh rằng vùng sóng tràn là khu vực biến động nhất trong khu vực gần bờ, và nó được đặc trưng bởi dòng chảy mạnh và không ổn định, mức biến động cao, vận chuyển bùn cát diễn ra mạnh mẽ gây thay đổi hình thái bãi biển trong một khoảng thời gian nhỏ [Butt & Russell, 1999; Masselink & Puleo, 2006; Bakhtyar et al, 2009]. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong vùng sóng vỡ và sóng tràn năng lượng sóng tiêu hao mạnh mẽ gây ra bởi hiện tượng phi tuyến (sóng vỡ, sự sụp đổ của bore nước, dòng chảy rối), vì vậy các quá trình vận chuyển trầm tích ven bờ hầu hết đều xảy ra trong hai vùng này và cuối cùng hình thành hình thái bãi biển. Các khu vực gần bờ Khi sóng tiếp cận bờ biển, sẽ có một vị trí mà tại đó độ sâu của nước đã giảm đến một mức độ làm cho vận tốc truyền sóng (cg) giảm. Trước khi sóng vỡ, thông lượng của năng lượng sóng được bảo toàn trong lan truyền sóng [ví dụ: Holthuijsen, 2007]: P = Ecg = constant (1.1) Trong đó E là năng lượng sóng và cg là vận tốc (nhóm) sóng.

Theo định luật bảo toàn năng lượng, năng lượng sóng tăng thì vận tốc lan truyền sẽ phải giảm. Khi năng lượng sóng tăng thì làm cho chiều cao sóng tăng lên. Hiện tượng này được gọi là hiệu ứng nước nông. Sau khi sóng vỡ thì một khối nước lan truyền như một bore nước qua vùng sóng vỡ.

Và một lớp nước mỏng sẽ đi lên (chạy lên) trên bãi biển và đi xuống (chạy xuống) trong một khu vực được gọi là vùng sóng tràn. Một chuỗi pha nước đi lên và pha nước đi xuống được gọi là chu kỳ sóng tràn.3 một sự khái quát của khu vực gần bờ được đưa ra. Phân loại các khu vực sóng gần bờ. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Sóng và sóng gây ra sóng tràn Sóng có thể bắt nguồn từ gió (sóng gió, sóng lừng, sóng mao dẫn), lực hấp dẫn giữa Mặt trời, Mặt trăng và Trái đất (sóng triều), chấn động biển (sóng thần) hoặc có thể được gây ra bởi sóng khác (sóng tần số thấp). Các chu kỳ sóng có thể khác nhau từ nhỏ hơn 0.1 s của sóng mao dẫn đến hơn 24 giờ của sóng triều. Ba loại sóng đặc biệt quan trọng đối với vùng sóng tràn: sóng triều, sóng tần số cao (sóng ngắn) và sóng tần số thấp (sóng dài). Quy mô thời gian và không gian của thủy triều là lớn hơn nhiều so với quy mô vùng sóng tràn, ảnh hưởng của thủy triều trong vùng sóng tràn có thể được biểu diễn như là một sự thay đổi mực nước, chứ không phải là một dao động của sóng.

a, Sóng tần số cao Sóng gió là sóng tạo ra bởi gió và quy mô của các sóng này phụ thuộc vào tốc độ gió, thời gian gió thổi, đà gió (chiều dài mà gió tương tác với mặt biển) và độ sâu của nước. Chu kỳ của chúng thường lớn hơn 0.25 s và nhỏ hơn 30 s, và nó được gọi là sóng trọng lực bề mặt, sóng ngắn hoặc sóng tần số cao. Sóng gió tương đối ngắn, và bao gồm các chuyển động khá ngẫu nhiên và không thường xuyên. Sóng có thể lan truyền với một quãng đường dài, nhưng do quá trình phân tán tần số (nơi mà những sóng được sắp xếp theo tần số sóng của chúng do sự khác biệt trong dao động của sóng), chuỗi sóng sẽ trở nên đều đặn hơn (gọi là sóng lừng).

Một tác dụng của tần số phân tán, đó là những sóng có xu hướng di chuyển trong nhóm sóng (hình 1. Trong vùng nước nông, nơi mà sóng biển đang hoàn toàn thay đổi bởi quá trình vỡ, sóng tách nhóm. 4 các đường nét liền tượng trưng cho sự chuyển động sóng tần số cao, các đường nét đứt đại diện cho nhóm sóng ngắn hình bao và đây là các hình dạng tổng thể của nhóm sóng lan truyền trong không gian. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Đại diện của dao động sóng tần số cao. b, Sóng tần số thấp Bên cạnh đó sóng cao tần chuyển động có thể đạt được một chu kỳ sóng đến năm phút (với tần số 0,003÷0,03 Hz). Những sóng có bước sóng dài hơn, nhưng biên độ thường nhỏ hơn nhiều so với sóng tần số cao, và được liên kết với các nhóm sóng ngắn. Trong văn liệu chúng được gọi là sóng dài, sóng tần số thấp, sóng vỡ nhịp hay sóng trọng lực thấp.

Có hai loại sóng tần số thấp: sóng dài và sóng tự do. Đại diện của dao động sóng dài cưỡng bức bởi hai thành phần sóng của nhóm sóng ngắn. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong hình 1. 5 một dao động sóng dài là sơ đồ đại diện cho hai thành phần sóng của nhóm sóng ngắn.

5 các đường nét liền đại diện cho sóng tần số cao, trong khi các đường nét đứt đại diện cho sóng dài. Chu kỳ sóng tràn Khi sóng lan truyền vào đến bờ tạo ra một chuyển động theo chu kỳ của pha nước đi lên và đi xuống. Hiện tượng đi lên và đi xuống của pha nước do sóng được gọi là chu kỳ sóng tràn. Một chu kỳ sóng tràn bao gồm hai giai đoạn riêng rẽ, mỗi một giai đoạn có đặc trưng riêng [Bakthtyar cùng cộng sự, 2009].

Quá trình đi lên của nước trên bãi biển là quá trình nước chuyển đến dồn lên. Trong khoảng dồn lên của nước trên bãi biển thì vận tốc dòng chảy sẽ giảm đi (vì do ma sát đáy và trọng lực) cho đến khi vận tốc bằng 0. Trong một thời gian ngắn nước di chuyển lên bãi biển đến vị trí cao nhất mà nước biển có thể đi lên và sau đó nước sẽ bắt đầu di chuyển xuống. Sau khi nước di chuyển xuống thì vận tốc dòng chảy tăng thêm lần nữa, nhưng lúc này hướng dòng chảy ra ngoài khơi, cho đến khi gặp chu kỳ sóng tràn tiếp theo.

Sự đi xuống của nước trên bãi biển hướng ra biển là chuyển động nước cuộn ngược. 6 biểu diễn một chu kỳ sóng tràn trên bãi biển. Chu kỳ sóng tràn nói chung có thể được phân thành ba dải tần số và được thể hiện trong bảng 1. Khoảng tần số trong vùng sóng tràn [Short, 1999] Tần số (Hz) Chu kỳ (s) Tần số cao 0,07 - 0,2 5 - 15 Tần số trung bình 0,03 - 0,07 15 - 30 Tần số thấp 0,003 - 0,03 30 - 300 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Sơ đồ mô phỏng chu kỳ sóng tràn trên bãi biển bằng mô hình Xbeach Trên hình 1.6 biểu diễn sự lan truyền của sóng tràn trên bãi biển được trích xuất từ quá trình mô phỏng của mô hình Xbeach. Trong hình (A) một bore sóng lan truyền về phía bãi biển. Trong hình (C) vận tốc đang giảm do ma sát đáy và (chủ yếu) lực hấp dẫn. Trong hình (D) và (E) các rửa ngược 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được thực hiện; nước di chuyển từ bãi biển về phía biển.

Trong hình (F) sóng tràn gặp các bore tiếp theo do đó sẽ tạo ra một chu kỳ sóng tràn mới. Chu kỳ sóng tràn bất đối xứng Sự khác biệt trong hiện tượng dồn lên và rửa ngược trong một chu kỳ sóng tràn được gọi là sóng tràn bất đối xứng. 7 thể hiện một chuỗi thời gian của mực nước và vận tốc đo được trong vùng sóng tràn, nơi mà sóng tràn bất đối xứng có thể được quan sát thấy. Ngược lại với hiện tượng rửa ngược, thì hiện tượng dồn lên diễn ra trong thời gian ngắn và tốc độ mạnh.

Ngoài ra mực nước dồn lên sẽ cao hơn mực nước rửa ngược. Khi vận tốc dồn lên lớn và mực nước dồn lên cao sẽ tạo ra lưu lượng trong quá trình dồn lên lớn hơn trong quá trình rửa ngược.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu động lực học sóng tại bãi biển Nha Trang" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố ảnh hưởng đến động lực học của sóng tại khu vực bãi biển nổi tiếng này. Nghiên cứu không chỉ phân tích các đặc điểm sóng mà còn đánh giá tác động của chúng đến môi trường và hoạt động du lịch tại Nha Trang. Những thông tin này rất hữu ích cho các nhà nghiên cứu, kỹ sư và nhà quản lý trong việc bảo vệ và phát triển bãi biển một cách bền vững.

Để mở rộng kiến thức của bạn về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn nghiên cứu động lực học của sóng sau đới sóng đổ tại bãi biển Nha Trang, nơi cung cấp thông tin chi tiết hơn về động lực học sóng trong khu vực. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ triển khai ứng dụng mô hình ecomsed tính toán vận chuyển trầm tích lơ lửng khu vực cửa sông ven biển Hải Phòng cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các mô hình tính toán liên quan đến động lực học sóng và trầm tích. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Nghiên cứu sóng tràn qua tường biển mặt cong có mũi hắt sóng áp dụng cho các khu đô thị du lịch vùng duyên hải Bắc Bộ, tài liệu này sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về các giải pháp kỹ thuật trong quản lý sóng tại các khu vực ven biển.

Mỗi tài liệu đều là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về động lực học sóng và các ứng dụng thực tiễn của nó.