Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường khử đến sự giải phóng một số kim loại nặng cu pb zn trong mẫu đất lúa xã đại áng thanh trì hà nội

Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường khử đến sự giải phóng kim loại nặng Cu, Pb, Zn trong đất lúa tại xã Đại Áng, Thanh Trì, Hà Nội.

Chuyên ngành

Khoa học môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học

2015

86
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Kim loại nặng trong môi trường đất

1.2. Động thái của kim loại nặng trong môi trường đất

1.3. Thế oxy hóa khử trong đất

1.4. Giới thiệu chung về thế oxy hóa - khử trong đất

1.5. Ảnh hưởng của thế oxy hóa-khử tới kim loại nặng trong đất

2. CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

3. CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Một số đặc tính lý hóa học của đất nghiên cứu

3.2. Các dạng tồn tại của kim loại nặng trong đất

3.3. Ảnh hưởng của môi trường khử đến các yếu tố trong đất

3.4. Sự thay đổi thế oxy hóa-khử (Eh) và pH trong đất

3.5. Động thái của Fe(II) và Mn(II)

3.6. Động thái của các kim loại nặng

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường khử

Nghiên cứu về môi trường khử và sự giải phóng kim loại nặng trong đất lúa là một lĩnh vực quan trọng trong khoa học môi trường. Các kim loại nặng như Cu, Pb, và Zn có thể gây ra những tác động tiêu cực đến sức khỏe con người và hệ sinh thái. Việc hiểu rõ về động thái của chúng trong môi trường đất lúa sẽ giúp đưa ra các giải pháp hiệu quả để quản lý ô nhiễm.

1.1. Đặc điểm của đất lúa và môi trường khử

Đất lúa có đặc điểm riêng biệt, thường xuyên bị ngập nước, tạo ra môi trường khử. Môi trường này ảnh hưởng đến sự hòa tan và di chuyển của kim loại nặng trong đất. Các yếu tố như pH, Eh, và sự hiện diện của các ion khác cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định trạng thái của kim loại nặng.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu này

Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về sự giải phóng kim loại nặng mà còn cung cấp thông tin cần thiết cho việc quản lý và bảo vệ môi trường đất lúa. Điều này có thể giúp giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

II. Vấn đề ô nhiễm kim loại nặng trong đất lúa

Ô nhiễm kim loại nặng trong đất lúa đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng. Các hoạt động nông nghiệp và công nghiệp đã làm gia tăng nồng độ của các kim loại nặng trong đất. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến năng suất cây trồng mà còn gây ra những rủi ro cho sức khỏe con người.

2.1. Nguyên nhân gây ô nhiễm kim loại nặng

Các nguồn ô nhiễm chính bao gồm hoạt động công nghiệp, sử dụng phân bón hóa học, và nước tưới. Những yếu tố này làm tăng nồng độ kim loại nặng trong đất, gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường và sức khỏe con người.

2.2. Hệ quả của ô nhiễm kim loại nặng

Ô nhiễm kim loại nặng có thể dẫn đến sự suy giảm chất lượng đất, ảnh hưởng đến sự phát triển của cây trồng và gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng cho con người. Việc hiểu rõ về hệ quả này là cần thiết để có các biện pháp khắc phục hiệu quả.

III. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường khử

Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp khoa học để xác định ảnh hưởng của môi trường khử đến sự giải phóng kim loại nặng trong đất lúa. Các thí nghiệm được thiết kế để mô phỏng điều kiện thực tế trong môi trường đất lúa.

3.1. Thiết lập môi trường khử nhân tạo

Môi trường khử nhân tạo được thiết lập để nghiên cứu động thái của kim loại nặng. Các yếu tố như pH, Eh, và nồng độ của các ion được kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo tính chính xác của kết quả.

3.2. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng

Các yếu tố như nồng độ Fe, Mn, và các kim loại nặng (Cu, Pb, Zn) được phân tích để đánh giá ảnh hưởng của môi trường khử. Kết quả sẽ giúp hiểu rõ hơn về sự tương tác giữa các yếu tố này trong đất lúa.

IV. Kết quả nghiên cứu về sự giải phóng kim loại nặng

Kết quả nghiên cứu cho thấy môi trường khử có ảnh hưởng đáng kể đến sự giải phóng kim loại nặng trong đất lúa. Sự thay đổi pH và Eh trong môi trường khử đã làm tăng nồng độ của các kim loại nặng trong đất.

4.1. Sự thay đổi nồng độ kim loại nặng

Nghiên cứu cho thấy nồng độ của Cu, Pb, và Zn trong đất lúa tăng lên khi môi trường khử được thiết lập. Điều này cho thấy rằng môi trường khử có thể làm tăng tính di động của các kim loại nặng.

4.2. Tác động của pH và Eh đến kim loại nặng

Sự thay đổi pH và Eh có tác động lớn đến trạng thái tồn tại của kim loại nặng trong đất. Các nghiên cứu cho thấy rằng pH thấp và Eh thấp thường dẫn đến sự gia tăng nồng độ của các kim loại nặng hòa tan.

V. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong việc quản lý ô nhiễm kim loại nặng trong đất lúa. Các biện pháp quản lý có thể được đề xuất dựa trên những hiểu biết từ nghiên cứu này.

5.1. Đề xuất biện pháp quản lý ô nhiễm

Các biện pháp như cải thiện chất lượng nước tưới, sử dụng phân bón hợp lý, và áp dụng các công nghệ xử lý đất có thể giúp giảm thiểu ô nhiễm kim loại nặng trong đất lúa.

5.2. Tăng cường giáo dục cộng đồng

Giáo dục cộng đồng về tác động của kim loại nặng và cách quản lý ô nhiễm là rất quan trọng. Các chương trình giáo dục có thể giúp nâng cao nhận thức và khuyến khích các hành động bảo vệ môi trường.

VI. Kết luận và tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu về ảnh hưởng của môi trường khử đến sự giải phóng kim loại nặng trong đất lúa là rất cần thiết. Kết quả nghiên cứu không chỉ cung cấp thông tin quan trọng cho việc quản lý ô nhiễm mà còn mở ra hướng nghiên cứu mới trong tương lai.

6.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc phát triển các phương pháp mới để giảm thiểu ô nhiễm kim loại nặng trong đất lúa. Điều này sẽ giúp bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường.

6.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Các nghiên cứu trong tương lai có thể mở rộng ra các khu vực khác và áp dụng các công nghệ mới để theo dõi và quản lý ô nhiễm kim loại nặng trong đất. Điều này sẽ góp phần vào việc bảo vệ môi trường bền vững.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường khử đến sự giải phóng một số kim loại nặng cu pb zn trong mẫu đất lúa xã đại áng thanh trì hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Kim loại nặng trong môi trường đất KLN tồn tại tự nhiên trong đá và khoáng vật trải qua quá trình phong hóa được đưa vào đất. Nhìn chung, hàm lượng các KLN được đưa vào đất từ quá trình phong hóa tại chỗ đá mẹ là khá thấp.

Lượng lớn hơn và ngày càng tăng của một số KLN trong môi trườngcó nguồn gốc từ các hoạt động nhân tạo, chủ yếu là từ các hoạt động công nghiệp và nông nghiệp. Dấu hiệu đầu tiên của sự gia tăng ô nhiễm do con người gây ra được nhận thấy bởi các chỉ số tính toán liên quan đến khả năng ô nhiễm. Nikiforova và Smirnova (1975) đã tính toán chỉ số “technophility index” thể hiện mối quan hệ giữa mức độ khai khoáng hàng năm và hàm lượng trung bình của KLN trong đất. Kết quả chỉ ra rằng Cd, Pb và Hg là những KLN có mức độ ô nhiễm cao nhất.

Những nghiên cứu này đã nhấn mạnh khai khoáng là một trong số các nguồn chính tạo ra các KLN có khả năng di động, ngoài ra còn có rất nhiều hoạt động nhân tạo khác đưa KLN vào hệ thống đất – cây trồng. Cambell và nnk (1983) so sánh hàm lượng KLN được tạo ra từ các nguồn tự nhiên với các nguồn nhân tạo và chỉ ra rằng các hoạt động của con người đã tạo ra một lượng KLN lớn hơn nhiều lần so với các nguồn tự nhiên, cụ thể là gấp xấp xỉ 15 lần đối với Cd, 100 lần đối với Pb, 13 lần đối với Cu và 21 lần đối với Zn. Chắc chắn rằng sự “dư thừa” của các nguồn KLN này trong môi trường sẽ tạo ra những tác động tiêu cực đến môi trường và HST. Sự dư thừa này có thể gây độc cho môi trường hay không phụ thuộc vào: (i) tính chất vật lý và hóa học của đất, ví dụ như độ chua, điều kiện ngập nước, sự có mặt của khoáng sét, oxit Fe – Mn và các hợp chất hữu cơ của đất…; (ii) địa hình và các yếu tố thủy văn: các yếu tố này không chỉ làm thay đổi hàm lượng chất ô nhiễm tại vị trí bị tác động mà còn có thể vận chuyển các chất ô nhiễm từ nơi chúng được giải phóng ra đến những nơi khác; và (iii) khu hệ VSV với vai trò hấp thụ và chuyển hóa các KLN trong đất và HST.

Nguồn phong hóa khoáng vật KLN tích lũy cục bộ trong đất phụ thuộc vào sự phong hóa tại chỗ của khoáng vật. Đá magma và biến chất là nguồn tự nhiên phổ biến nhất của KLN trong 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đất, chúng được cho là chiếm khoảng 95% vỏ trái đất, còn đá trầm tích chiếm khoảng 5%. Trong các đá trầm tích thì 80% là đá phiến sét, 15% là đá cát kết và 5% là đá vôi (Mitchell, 1964). Các dạng linh động của KLN trong hệ thống đất –cây trồng và các vòng tuần hoàn của chúng trong HST phụ thuộc vào khả năng phong hóa đá có dễ dàng hay không.

Đá cát kết là hợp chất của khoáng vật khó bị phong hóa do vậy đóng góp ít nhất lượng KLN ở trong đất. Nếu đá mẹ là đá bazơ phun trào thì có tiềm năng đóng góp một lượng lớn Cr, Mn, Co và Ni vào đất. Trong số các loại đá mẹ trầm tích thì đá phiến sét là loại có tiềm năng đóng góp lượng lớn Cr, Co, Ni, Zn và Pb. Mức độ phong hóa sẽ xác định khả năng giải phóng các kim loại này vào trong đất.

Ví dụ như có rất nhiều khoáng vật chứa KLN rất khó hòa tan và rất bền với phong hóa vẫn có thể giải phóng ra một lượng lớn KLN ở đất nhiệt đới, nơi có chế độ phong hóa lâu dài và mạnh mẽ. Nguồn kim loại nặng từ khí quyển Lịch sử của việc ô nhiễm KLN từ khí quyển ở Tây bắc châu Âu và Bắc Mỹ đã được ước tính từ các nghiên cứu địa hóa than bùn đầm lầy và bùn lòng hồ. Sự lan rộng của ô nhiễm đã được chứng minh bằng những nghiên cứu trên băng ở các vùng cực (Levitt, 1988). Tác động làm ô nhiễm KLN của các khu vực luyện kim loại kể từ 2000 năm trước ở Thung lũng Gordano, Tây bắc nước Anh đã được xác nhận trong các nghiên cứu trên than bùn của Martin và cộng sự (1979).

Sự ô nhiễm này được khẳng định có liên quan đến nhà máy luyện kim Roman. Nhiều khu vực ở châu Âu, sự gia tăng mạnh mẽ của việc tích lũy kim loại từ nguồn khí quyển đã xuất hiện từ khoảng 200 năm trước. Ở Bắc Mỹ, bằng chứng về sự ô nhiễm KLN từ khí quyển xuất hiện gần đây hơn, khoảng 80 – 100 năm trước (Norton, 1986). Các sol kim loại có đường kính khác nhau được giải phóng vào khí quyển từ mặt đất, sau đó được khuếch tán lên cao.

Các phần tử kim loại lớn nhất rơi xuống đất dưới dạng kết tủa khô. Mưa mang phần kim loại hòa tan từ khí quyển dưới dạng lắng đọng ướt. Lắng đọng ướt được biết đến là quá trình lắng đọng chủ yếu đưa KLN vào đất. Ngoài ra, KLN có thể xâm nhập vào đất từ lắng đọng 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khí quyển dưới dạng sương mù.

Các nghiên cứu về sự lan truyền trong khí quyển của KLN đã chỉ ra rằng KLN có thể di chuyển với một khoảng cách khá xa tính từ nguồn phát thải (Pacyna và nnk,1984). Ở khoảng cách càng gần với điểm phát thải thì hàm lượng KLN sẽ càng lớn. Sự nhiễm bẩn KLN xuất hiện ở xung quanh các khu vực luyện kim có thể ảnh hưởng lên cả một vùng rộng lớn. Sự xâm nhập của KLN vào trong đất bởi lắng đọng khí quyển cũng có thể xuất phát từ các nguyên nhân tự nhiên.

Hoạt động của núi lửa có thể đưa vào khí quyển một lượng khá lớn KLN, đặc biệt là Hg, Pb và Ni. Tuy vậy, rõ ràng hàm lượng KLN trong khí quyển được đưa vào chủ yếu từ các nguồn nhân tạo như hoạt động đốt, thiêu, khai khoáng và luyện kim. Một tỷ lệ lớn (22,1%) Cd thâm nhập vào đất thông qua lắng đọng khí quyển xuất phát chủ yếu từ các hoạt động khai khoáng (Nriagu và Pacyna, 1988). Bên cạnh khai khoáng, khí thải xe cộ cũng được coi là một nguồn thải gây ô nhiễm KLN trong khí quyển.

Lindberg và Harriss (1989) báo cáo rằng tổng hàm lượng Pb lắng đọng từ khí quyển nằm trong khoảng từ 3,1 - 31 mg/m2/năm ở các vùng nông thôn đến khoảng 27 - 140 mg/m2/năm ở các vùng đô thị và công nghiệp. Hàm lượng Pb trung bình ở đất ven đường tăng lên là do việc sử dụng xăng pha chì với sự phát thải toàn cầu được ước tính bởi Pacyna (1986) trong khoảng 176x109 mg/năm (chiếm 45% lượng Pb xâm nhập vào trong đất từ khí quyển). Nguồn bổ sung từ hoạt động nông nghiệp Bón phân vô cơ, phân hữu cơ, bùn thải, thuốc trừ sâu, nước tưới… đều có thể cung cấp KLN với hàm lượng gây độc vào đất. Có thể ban đầu sự bổ sung này chưa đem lại một lượng đủ cao để gây độc ngay lập tức, nhưng nếu những ứng dụng này được lặp đi lặp lại trong một thời gian dài thì cuối cùng cũng sẽ đạt tới mức gây độc cho HST đất.

Hàm lượng tiêu biểu của một vài KLN có trong một số nguồn bổ sung trong nông nghiệp được liệt kê ở bảng 1. Hàm lượng KLN trong một số nguồn bổ sung trong nông nghiệp (µg g-1) Các Phế thải ủ Phân Phân Phân nguyên Bùn thải Vôi compost chuồng photphat nitrat tố Cu 50 - 8000 13 - 3580 2 - 172 1 - 300 - 2 - 125 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các Phế thải ủ Phân Phân Phân nguyên Bùn thải Vôi compost chuồng photphat nitrat tố Zn 91 - 49000 82 - 5894 15 - 566 50 - 1450 1 - 42 10 - 450 Pb 2 - 7000 1,3 - 2240 0,4 - 27 4 - 1000 2 - 120 20 - 1250 Nguồn: Alloway (1990) Bùn thải và phân compost cung cấp hàm lượng KLN lớn nhất cho đất. Zn và Pb là hai kim loại chính có trong bùn thải, bên cạnh đó cũng có một lượng đáng kể Cu. McGrath (1987), McGrath và Lane (1989) khi nghiên cứu hệ thống nông nghiệp ở Woburn (Anh) trong vòng 40 năm đã thấy rằng: sau 20 năm trên đất tiếp nhận bùn thải hàng năm, chỉ có < 0,5% lượng Zn bón cho đất được cây trồng sử dụng.

Tỷ lệ lấy đi của cây trồng cao nhất đối với Zn cũng chỉ bằng 0,57% lượng Zn được bổ sung vào đất qua bùn thải trong 20 năm. Nếu giả thiết quá trình duy nhất lấy Zn từ đất là do cây trồng thì thời gian tồn dư của Zn trong đất sẽ là 3700 năm. Thành phần của bùn thải thay đổi rất nhiều phụ thuộc vào nguồn gốc phát sinh của chúng vì vậy rất khó để xác định và đánh giá cụ thể về khả năng gây ô nhiễm đất của chúng. Để giảm đến mức tối thiểu sự tích lũy KLN trong đất được bón bùn thải, những ngưỡng hàm lượng bắt buộc và khuyến cáo đã được xây dựng cho việc sử dụng bùn thải ở nhiều nước.

Ở Mỹ, mức độ áp dụng này phụ thuộc vào cả hàm lượng KLN và dung tích trao đổi cation (CEC) của đất. Liên minh châu Âu khuyến cáo việc bón bùn thải vào trong đất nông nghiệp cần giới hạn trong khoảng 4000 µg Zn g-1 (bắt buộc), 2500 µg Pb g-1 (khuyến cáo). Có nhiều loại thuốc diệt nấm, thuốc trừ sâu và các vật gây hại khác cho mùa màng là các muối KLN rất độc, ví dụ như clorua thuỷ ngân và các hợp chất thủy ngân hữu cơ, CuSO4. Trong quá trình con người sử dụng, một lượng nhất định các hoá chất trên bị rơi xuống đất.

Do đặc tính phân hủy trong đất rất chậm nên chúng tạo ra dư lượng đáng kể tồn đọng lại trong đất. Nguồn bổ sung từ hoạt động công nghiệp Các hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và đô thị cũng là nguồn gây nhiễm bẩn KLN trong môi trường đất. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường khử đến giải phóng kim loại nặng trong đất lúa" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà các yếu tố môi trường khử có thể tác động đến việc giải phóng kim loại nặng trong đất trồng lúa. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa môi trường và sự ô nhiễm kim loại nặng, mà còn chỉ ra các biện pháp có thể áp dụng để giảm thiểu tác động tiêu cực đến đất và cây trồng.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Nghiên cứu đặc điểm lan truyền kim loại nặng từ bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh tại Kiêu Kỵ, Gia Lâm, Hà Nội, nơi phân tích sự lan truyền của kim loại nặng trong môi trường. Ngoài ra, tài liệu Nghiên cứu xác định dạng Cu, Pb, Zn và Cd trong một số cột trầm tích thuộc lưu vực sông Cầu cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về sự tích lũy kim loại nặng trong các hệ sinh thái nước. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật phân tích dòng chảy FIA để đánh giá ô nhiễm chì và cadimi trong nước mặt, giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp phân tích ô nhiễm trong môi trường nước. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề ô nhiễm kim loại nặng trong môi trường.