PHẦN MỞ ĐẦU 1, Tính cấp thiết của đề tài: Đông Nam Á trong lịch sử vốn là một khu vực từng bị chia rẽ bởi hệ tư tưởng, sự nghi kỵ và cả chiến tranh. Đã có lúc khu vực này được ví như “Thùng thuốc súng” của Châu Á. Ngày nay, 11 quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đã liên kết thành một hiệp hội ASEAN và hướng tới hình thành cộng đồng ASEAN với ba “trụ cột” chính vào năm 2015: Cộng đồng Anh ninh- Chính trị, Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Văn hoá Xã hội (Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ IX họp tại Bali (Indonesia) tháng 10/2003, những người đứng đầu chính phủ và quốc gia thuộc ASEAN đã nhất trí thông qua Tuyên bố hoà hợp Bali II). Hướng đi của ASEAN là trở thành một tập thể hoà hợp các quốc gia Đông Nam Á gắn bó với nhau thông qua quan hệ đối tác trong sự phát triển năng động và trong một cộng đồng các xã hội đùm bọc lẫn nhau; cam kết gìn giữ sự đa dạng văn hoá và hoà hợp xã hội.
Các nước ASEAN đang được đánh giá là một trong những khu vực phát triển năng động nhất thế giới. Tính tới ngày 6/3/2008, Việt Nam là thành viên thứ 5 (sau Singapore, Bruney, Malaysia, Lào, Campuchia) phê chuẩn Hiến chương ASEAN. Ngày 15/12/2008, Hiến chương ASEAN chính thức có hiệu lực sau khi được Ngoại trưởng các nước thành viên thông qua tại cuộc họp diễn ra tại trụ sở của Ban Thư ký ASEAN (Thủ đô Jakarta, Indonesia). Sự ra đời của Hiến chương ASEAN được xem như một bước tiến quan trọng: Thông qua Hiến chương này, tất cả các nguyên tắc, luật lệ và hành xử của ASEAN từ trước tới nay được cập nhật và pháp điển hoá một cách có hệ thống trong một văn kiện pháp lý (Trước khi có Hiến chương, ASEAN hoạt 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sỹ Quan hệ Quốc tế Phạm Đình Thắng động trên cơ sở văn kiện chính trị nền là Tuyên bố Băng Cốc ra đời ngày 8/8/1967).
Đây là một dấu mốc thể hiện quyết tâm của các nước thành viên ASEAN để hình thành cộng đồng ASEAN với ba trụ cột. Trong 3 trụ cột, cộng đồng văn hoá xã hội được đánh giá đóng vai trò quan trọng hàng đầu bởi đặc tính liên kết sâu sắc. Đặc điểm của văn hoá Đông Nam Á là tương đồng trong đa dạng. Do nằm ở vị trí giữa hai nền văn minh lớn-đồng thời là hai trung tâm kinh tế lớn là Ấn Độ và Trung Quốc, nên Đông Nam Á đã sớm hình thành điểm đến và hình thành trung tâm truyền tải các giá trị văn hoá của thế giới Phương Đông.
Việt Nam là quốc gia trong khu vực Đông Nam Á nên cũng mang những nét đặc trưng của khu vực. Có thể khẳng định rằng, sự hợp tác trong lĩnh vực văn hoá giữa Việt Nam và ASEAN tạo đà phát triển cho các lĩnh vực hợp tác khác, cũng như góp phần không nhỏ trong việc hình thành cộng đồng văn hoá xã hội ASEAN. Xuất phát từ tầm quan trọng đó, tác giả đã lựa chọn để tài này nhằm đánh giá những thành tựu đạt được trong quan hệ hợp tác về văn hoá giữa Việt Nam và ASEAN trong 10 năm trở lại đây. Từ những nghiên cứu đánh giá này, tác giả đề xuất một số định hướng hợp tác về văn hoá nói riêng và các lĩnh vực khác như kinh tế; an ninh, chính trị.
2, Tình hình nghiên cứu: Đây là vấn đề mới và đang diễn ra, nên hầu như trong nước và quốc tế chưa có một công trình nào tổng hợp hoặc nghiên cứu một cách hoàn chỉnh; ngoài những bài viết nhỏ trên các báo, tạp chí nghiên cứu chuyên ngành hoặc lồng ghép vào các vấn đề khác trong những nghiên cứu về ASEAN. Trong khi đó, Việt Nam là nước đề xuất ý tưởng hình thành cộng đồng văn hoá-xã hội-một trong ba trụ cột chính hình thành Cộng đồng ASEAN. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sỹ Quan hệ Quốc tế Phạm Đình Thắng Đề tài nghiên cứu tập trung chủ yếu vào cơ sở hình thành văn hoá Đông Nam Á; hợp tác văn hoá giữa Việt Nam và ASEAN từ sau khi Việt nam gia nhập ASEAN; tác giả có xu hướng nghiên cứu vai trò quan trọng của hợp tác văn hoá như một mối quan hệ nền tảng tạo đà thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác khác. Đặc biệt, tác giả hướng đề tài gắn với việc hình thành một trong 3 cộng đồng chính để hình thành cộng đồng ASEAN: Đó là Cộng đồng Văn hoá.
Đánh giá sự hợp tác văn hoá giữa Việt Nam và ASEAN như bước chuẩn bị đóng góp cho việc hình thành cộng đồng này vào năm 2015. Với lý do đó, đề tài này vừa có ý nghĩa khoa học, vừa mang ý nghĩa thực tiễn phù hợp với đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong xu hướng toàn cầu hoá hiện nay. 3, Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: Mục đích của đề tài là tìm hiểu phân tích, sau hơn 10 năm quan hệ văn hóa Việt Nam-ASEAN đạt được những thành tựu và gặp trở ngại gì. Mối quan hệ này chính thức và bình đẳng, tự chủ từ năm 1995 nhưng do lịch sử để lại, Việt Nam vốn thuộc cơ tầng văn hóa Đông Nam Á nên mang nhiều giá trị văn hóa của khu vực Đông Nam Á.
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng mang nhiều giá trị của cơ tầng văn hóa Đông Á. Từ những giá trị này, tác giả tìm hiểu và đánh giá quá trình quan hệ Việt Nam-ASEAN từ năm 1995 đến nay có đóng góp như thế nào cho đất nước nói riêng và ASEAN nói chung. Từ đây đưa ra một số đề xuất, dự báo cho mối quan hệ này phát triển trong thời gian tới. 4, Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cở sở hình thành nét đặc trưng văn hoá Đông Nam Á, một số hoạt động hợp tác văn hoá song phương và đa phương giữa Việt Nam và ASEAN.
3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sỹ Quan hệ Quốc tế Phạm Đình Thắng Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ giới hạn từ khi Việt Nam gia nhập ASEAN (1995) tới nay. Bởi vì, trước thời điểm này, quan hệ hợp tác Việt Nam-ASEAN hình thành dưới góc độ tự nhiên như bị ảnh hưởng qua quá trình giao thương hoặc bị cưỡng bức văn hóa. Từ sau khi Việt Nam gia nhập ASEAN, mối quan hệ giữa Việt Nam và ASEAN chủ động và bình đẳng, tiến tới mục đích hòa hợp và thịnh vượng chung cho khu vực. 5, Phƣơng pháp nghiên cứu: - Đề tài nghiên cứu dựa trên Chủ nghĩa Duy vật biện chứng, đồng thời dựa trên những quan điểm và đường lối của Đảng và Nhà nước ta.
- Sử dụng phương pháp phân tích chọn lọc, so sánh, đối chiếu và tổng hợp vấn đề. - Kết hợp phương pháp lịch sử lô-gích, cụ thể và khái quát. 6, Dự kiến đóng góp của đề tài: ASEAN được ví như “sân chơi” nhỏ để Việt Nam tạo lập các mối quan hệ ra với thế giới. Bản thân các nước ở khu vực Đông Nam Á đã chứa đựng nhiều điểm khác biệt về văn hóa, chính trị, kinh tế… Sự “cọ xát” ở một “sân chơi” mang tính khu vực sẽ giúp cho Việt Nam có thêm nhiều quan hệ, hơn nữa, ASEAN là một tổ chức mở khi có ASEAN cộng (+) nên từ đây vị thế của Việt Nam được nâng lên.
Đề tài này chỉ nghiên cứu mối quan hệ văn hóa Việt Nam-ASEAN giai đoạn từ 1995 đến này (hơn 10 năm). Giai đoạn này ngắn nhưng là bước đầu Việt Nam tự chủ trong hợp tác văn hóa với ASEAN, với các nước thành viên ASEAN. Đây có thể xem như đánh giá một giai đoạn quan hệ văn hóa ở thời kỳ đương đại. Sự đánh giá, phân tích này sẽ gợi mở 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sỹ Quan hệ Quốc tế Phạm Đình Thắng một hướng hợp tác hoàn thiện hơn cho Việt Nam với ASEAN trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Hơn nữa, nghiên cứu này đóng góp phần nào cho những nhà quản lý văn hóa cập nhật thêm thông tin tình hình hiện tại để có phương sách kịp thời khi tiến hành các hoạt động hợp tác văn hóa-thông tin với ASEAN. 7, Cấu trúc của đề tài nghiên cứu gồm có 3 phần thuộc 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cở sở hình thành văn hoá khu vực Đông Nam Á Chƣơng 2: Một số vấn đề và nguyên tắc hợp tác văn hoá Việt Nam- ASEAN những năm đầu thế kỷ 21 Chƣơng 3: Hợp tác văn hoá Việt Nam-ASEAN từ 1995 đến nay 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sỹ Quan hệ Quốc tế Phạm Đình Thắng CHƢƠNG 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH VĂN HOÁ KHU VỰC ĐÔNG NAM Á 1, Khái niệm văn hóa Trong tiếng Việt, văn hoá là danh từ có một nội hàm ngữ nghĩa khá phong phú và phức tạp. Người ta có thể hiểu văn hoá như một hoạt động sáng tạo của con người, nhưng cũng có thể hiểu văn hoá như là lối sống, thái độ ứng xử, lại cũng có thể hiểu văn hoá như trình độ học vấn. Ở phương Tây, từ văn hoá xuất hiện khá sớm trong đời sống ngôn ngữ.
Nhà ngôn ngữ học người Đức W. Wundt cho rằng, Văn hoá là một từ có nguồn gốcLatinh: Colere, sau thành Cultura, nghĩa là cày cấy, gieo trồng. Từ nghĩa này, sau đó phát triển rộng hơn là sự hoàn thiện, vun trồng tinh thần, trí tuệ. Ở Trung Quốc, từ văn hoá được cho là xuất hiện từ thời Tây Hán (206 trước công nguyên - 25 năm sau công nguyên).
Theo đó, sách Thuyết Uyển bài Chỉ Vũ có viết: “Thánh nhân cai trị thiên hạ, trước dùng văn đức rồi sau mới dùng vũ lực. Phàm dùng vũ lực là để đối phó kẻ bất phục tùng, dùng văn hoá không thay đổi được thì sau đó sẽ chinh phạt”. Theo cách hiểu này thì văn hoá là một cách giáo hoá đối lập với vũ lực. Mặc dù có mặt sớm trong đời sống ngôn ngữ phương Tây cũng như phương Đông nhưng phải đến thế kỷ XVIII, từ văn hoá mới được sử dụng như thuật ngữ khoa học.
Năm 1774, từ này mới được xuất hiện trong thư tịch và năm 1783 từ điển ở Đức ghi có từ này. Nhiều giả thiết cho rằng, người đầu tiên sử dụng từ văn hoá trong khoa học là Pufendorf (Đức). Ông cho rằng, văn hoá là toàn bộ những gì được tạo ra do hoạt động xã hội, đối lập với trạng thái tự nhiên. Sau này, nhà triết học Herder (1744 - 1803), cho rằng: Văn hoá là sự hình thành lần thứ hai của con người.