Chương I TỔNG QUAN VỀ HỢP TÁC KHAI THÁC CHUNG TRÊN BIỂN 1. Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của KTC trên biển Với diện tích trên 70% diện tích bề mặt trái đất, biển luôn đem đến cho loài người những tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú và đa dạng. Ngày nay, cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, các quốc gia trên giới đều nhận thức sâu sắc tầm quan trọng về lợi ích mà biển đem lại, vì vậy chiến lược tiến ra biển và làm chủ biển đã và đang được các quốc gia đẩy mạnh hơn bao giờ hết. Từ xa xưa, trong quá trình chinh phục và làm chủ biển, các quốc gia ven biển không tránh khỏi việc tranh chấp về khai thác tài nguyên biển giữa ngư dân với ngư dân, giữa quốc gia với quốc gia dẫn đến sự ra đời của nhiều học thuyết, quy tắc, quy định về biển và đại dương.
Đã có nhiều các nghiên cứu nổi tiếng như tác phẩm “Biển tự do” của Huygo Grotiuyt ( The Free sea hay Mare Liberum) vào năm 1609 đề cập đến vấn đề tự do hàng hải, thương mại và đánh bắt cá trên biển, nhà luật học người Anh John Selden cho ra đời tác phẩm “Biển kín” (Mare Clausum) năm 1653 trong đó ông đưa ra nguyên tắc về chủ quyền của các quốc gia biển cũng giống như trên đất liền khi các quốc gia cố gắng mở rộng được vùng lãnh thổ trên biển của mình như trên đất liền. Cho đến thế kỷ XVIII một số vùng biển trên thế giới đã hình thành một số nguyên tắc về Luật biển, vi dụ khu vực biển Bắc và phổ biến đến biển Địa Trung Hải… Tuy nhiên, cho đến tận giữa thế kỷ XX các nước ven biển chỉ có một vùng biển hẹp (lãnh hải) rộng 3 hải lý thuộc chủ quyền của mình, phía ngoài ranh giới 03 hải lý đều là biển chung. Do đó mọi cá nhân, tổ chức, tàu thuyền của mỗi quốc gia được hưởng quyền tự do biển cả, đường biên giới biển trong lãnh hải giữa các nước thường được hình thành và tôn trọng theo tập quán. Năm 1930 tại Hà Lan, LHQ đã tổ chức hội nghị pháp điển hóa Luật Quốc tế trong đó đưa vấn đề về Luật biển đã được nhắc đến và đưa ra thảo luận, bàn bạc.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuy nhiên, mãi đến năm 1958 mới ra đời Công ước đầu tiên về Luật biển. Năm 1956, Liên Hiệp Quốc tổ chức Hội nghị về Luật Biển đầu tiên (UNCLOS I) ở Geneva, Thụy Sĩ, Hội nghị này đi đến thống nhất được 04 Hiệp định và được các quốc gia ký kết năm 1958, 04 Hiệp định như sau: 1. Công ước về Lãnh hải và Vùng tiếp giáp lãnh hải (có hiệu lực từ ngày 10/9/1964). Công ước về Thềm lục địa (có hiệu lực từ ngày 10/6/1964).
Công ước về biển cả (có hiệu lực từ ngày 30/9/1962). Công ước về Nghề cá và bảo tồn tài nguyên sống ở hải phận Quốc tế (có hiệu lực ngày 20/3/1966). Hội nghị được cho là thành công, lần đầu tiên có những thỏa thuận quốc tế liên quan đến biên giới lãnh thổ trên biển, nhưng một vấn đề rất quan trọng liên quan đến vấn đề chủ quyền biển lại vẫn để ngỏ, đó là bề rộng của vùng lãnh hải. Năm 1960, LHQ đã tổ chức Hội nghị về Luật biển lần thứ II (UNCLOS II), tuy nhiên hội nghị không đạt được tiến triển nào mới.
Song song với sự phát triển và pháp điển hóa Luật biển Quốc tế, vấn đề KTC trên biển đã được các quốc gia áp dụng trong thực tiễn từ những năm 30 của Thế kỷ XX. Ý tưởng về KTC đã xuất hiện trong các công trình nghiên cứu và các án lệ về khai thác dầu mỏ ở Mỹ, sau đó KTC đã được một số quốc gia lựa chọn qua các thỏa thuận về KTC dầu khí, nghề cá như: thỏa thuận KTC giữa Ba-ranh với Ả-rập Xê - út ngày 22/02/2958 có liên quan đến KTC nguồn tài nguyên dầu mỏ tại khu vực biển có đường ranh giới đã được phân định (việc một quốc gia đơn phương khái thác nguồn dầu mỏ mà nằm vắt ngang qua ranh giới sẽ rất dễ dẫn đến làm cạn kiệt nguồn tài nguyên và ảnh hưởng đến khả năng khai thác của quốc gia láng giềng). Thỏa thuận KTC giữa Cô-oét với A-Rập Xê-út ngày 07/7/1965 lại là mô hình hợp tác trao quyền quản lý và khai thác cho bên thứ ba… 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hợp tác KTC đã được rất nhiều các quốc gia nghiên cứu ở một mức độ nhất định đã đề cập đến những khía cạnh của lý luận và thực tiễn của việc KTC theo những quan điểm và cách tiệp cận vấn đề khác nhau. Một số tác giả nổi tiếng như: Peter Bautista Payoyo, Hazel Fox, M.Mc Dade…trong các bài viết và tác phẩm của mình cũng đã đề cập đến một số vấn đề như: khái niệm, nội dung chế độ pháp lý và phương thức giải quyết tranh chấp trong hoạt động KTC[10,tr.18] … Kể từ khi xảy ra tranh chấp TLĐ biển Bắc giữa Đan Mạch, Hà Lan và CHLB Đức năm 1969 KTC đã được các nước chú trọng hơn, từ tranh chấp này mà phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) trở thành án lệ và là một nguồn căn cứ pháp lý vững chắc cho các thỏa thuân hợp tác KTC trên biển.
Những thỏa thuận hợp tác KTC đã nêu trên hay thỏa thuận KTC giữa Tây Ban Nha và Pháp năm 1974 hầu hết đều là những thỏa thuận KTC ở vùng biển đã được phân định ranh giới. Một trong những thỏa thuận tạo nên bước ngoặt đánh dấu lần đầu tiên trên thế giới áp dụng ý tưởng hợp tác KTC dầu khí ngoài khơi tại nơi đường biên giới trên biển chưa được phân định là thỏa thuận hợp tác KTC giữa Nhật Bản và Hàn Quốc ngày 30/01/1974. Đây là kết quả của quá trình đàm phán mà trước đó hai nước đã có nhiều cuộc đàm phán bất thành về giải quyết tranh chấp giữa TLĐ giữa hai nước. Năm 1967, các vấn đề về các tuyên bố khác nhau về Lãnh hải đã được nêu ra tại LHQ, đến năm 1973 Hội nghị LHQ lần III về Luật Biển được tổ chức tại New York, hội nghị dùng “quy trình đồng thuận” thay cho bỏ phiếu lấy đa số, với 160 nước tham gia, quá trình đàm phán kéo dài sau 09 năm thương lượng (1973- 1982) mới thông qua được một Công ước LHQ về Luật biển mà ngày nay thường gọi là UNCLOS 1982, có hiệu lực kể từ ngày 16/11/1994.
Có thể nói, sự ra đời của Công ước LHQ về luật Biển 1982 (UNCLOS năm 1982) là một bước ngoặt quan trọng đánh dấu sự phát triển của Luật biển Quốc tế, nó là một công ước ưu việt nhất so với những công ước về Luật biển Quốc tế trước 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Ngoài những khái niệm đã được đề cập, UNCLOS năm 1982 điều chỉnh bao chùm tất cả mọi vấn đề thuộc lĩnh vực pháp lý, kinh tế, khoa học kỹ thuật, môi trường, Công ước cũng đã điều chỉnh toàn diện và hệ thống các vùng biển của quốc gia ven biển cũng như vùng biển quốc tế và vùng đáy biển. Công ước quy đinh quốc gia ven biển có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải không vượt quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở, trong khi Hội nghị lần thứ nhất 1958 và Hội nghị 1960 chưa đề cập đến, đặc biệt “Vùng đặc quyền kinh tế” là một quy định, một khái niệm hoàn toàn mới so với những công ước trước. Theo quy định của Công ước, quốc gia ven biển có quyền xác định: Vùng Nội thủy, vùng Lãnh hải rộng không quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở, vùng Tiếp giáp lãnh hải rộng không quá 24 hải lý tính từ đường cơ sở, vùng Đặc quyền kinh tế (ĐQKT) rộng không quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở, Thềm lục địa dù tính theo cách nào thì tối đa không quá 350 hải lý tình từ đường cơ sở.
Sự ra đời của Công ước Luật biển 1982 là cơ sở pháp lý chung cho việc giải quyết tranh chấp biển. Công ước Giơnevơ 1958 quy định Thềm lục địa là độ sâu 200m dưới đáy biển và khả năng kỹ thuật khai thác cho phép, UNCLOS năm 1982 quy định: Thềm lục địa của quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều dài lãnh hải 200 hải lý khi bờ ngoài rìa Thềm lục địa của quốc gia này ở khoảng cách gần hơn. Trong trường hợp bờ ngoài rìa lục địa của quốc gia ven biển kéo dài tự nhiên vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở, quốc gia ven biển có thể xác định ranh giới ngoài thềm lục địa của mình tới khoảng cách 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc cách đường đẳng sâu 2.500m không vượt quá 100 hải lý. Như vậy UNCLOS năm 1982 ra đời đã thay đổi hai tiểu chuẩn của thêm lục địa là độ sâu 200m và khả năng khai thác bằng tiêu chuẩn khoảng cách và phần kéo dài tự nhiên.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com UNCLOS năm 1982 ra đời đồng nghĩa với việc các vùng biển của quốc gia ven biển được mở rộng đáng kể. Việc mở rộng quyền tài phán của quốc gia ven biển theo UNCLOS năm 1982 dẫn đến xung đột thẩm quyền ở những vùng biển eo hẹp, yêu sách của quốc gia ven biển có bờ biển đối diện hoặc liền kế nhau sẽ chồng lấn lên nhau. Trên thực tế hiện nay có khoảng trên 400 đường ranh giới trên biển cần được phân định, trong khi đó việc phân định đường biên giới trên biển là cả một quá trình đàm phán kéo dài căng thẳng và phức tạp, căng thẳng càng trở nên phức tạp hơn khi quốc gia ven biển đơn phương khai thác tài nguyên ở những vùng biển chồng lấn đang xảy ra tranh chấp này, nếu không kiềm chế dễ dẫn đến xung đột, chiến tranh…Vì vậy, căn cứ theo khoản 3 của điều 74 và điều 83 của Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển năm 1982 “Trong khi chờ đợi ký kết thỏa thuận nói ở khoản 1, các quốc gia hữu quan trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, làm hết sức mình để đi đến giải pháp tạm thời có tính chất thực tiễn và không để phương hại hay cản trở việc ký kết các thỏa thuận dứt khoát trong giai đoạn quá độ này. Các dàn xếp tạm thời không phương hại đến hoạch định cuối cùng”.