chương I Luật trợ giúp pháp lý Hà Lan năm 1993 quy định: Trợ giúp pháp lý là hỗ trợ về pháp luật cho đối tượng đang mong muốn công lý đối với các vấn đề pháp lý ảnh hưởng trực tiếp đến cá nhân họ như được quy định trong Luật trợ giúp pháp lý và các quy định khác dựa trên Luật trợ giúp pháp lý. Điều 2 Luật trợ giúp pháp lý Moldova năm 2007 quy định: Trợ giúp pháp lý của Nhà nước là việc cung cấp dịch vụ pháp lý theo quy định của Luật trợ giúp pháp lý từ nguồn kinh phí trợ giúp pháp lýcho người không có đủ tiền để trả và người đáp ứng các điều kiện quy định tại Luật này. Tương tự như vậy, Luật trợ giúp pháp lý Phần Lan năm 2002 quy định trợ giúp pháp lý được cung cấp cho người đang có vướng mắc pháp luật mà không có khả năng chi trả. Kinh phí thực hiện trợ giúp pháp lý từ ngân sách nhà nước4, tr.
Có thể thấy một số điểm nổi bật trong khái niệm trợ giúp pháp lý của các nước trên thế giới, đó là: Thứ nhất, về bản chất trợ giúp pháp lý là cung cấp các dịch vụ pháp lý. Thứ hai, do Nhà nước trả tiền và bảo đảm. Thứ ba, người được trợ giúp pháp lý được miễn phí hoặc giảm phí. Thứ tư, việc thực hiện phải tuân theo các quy định của Luật trợ giúp pháp lý.
Trên cơ sở nghiên cứu những kinh nghiệm xây dựng tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý của các nước trên thế giới đã có lịch sử trợ giúp pháp lý từ hàng trăm năm nay và thực tiến hoạt động trợ giúp pháp lý tại Việt Nam trong thời gian qua, quan niệm về trợ giúp pháp lý thể hiện những đặc trưng cơ bản của nó, đó là sự giúp đỡ pháp lý miễn phí của Nhà nước và xã hội cho 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật để tiếp cận với các dịch vụ pháp lý, nhằm đảm bảo cho mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng xã hội. Tuy nhiên, khái niệm trợ giúp pháp lývẫn chưa bao quát và chưa mang tính trực diện để phục vụ hoạt động trợ giúp pháp lý. Khái niệm này dẫn đến việc triển khai một số hoạt động trợ giúp pháp lý tại cơ sở hướng nhiều đến mục tiêu phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong khi đó, hiện nay, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật đã được ban hành, việc quy định nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật trong khái niệm trợ giúp pháp lý không còn phù hợp với tình hình thực tế, đồng thời không phản ánh đúng nội hàm của khái niệm trợ giúp pháp lý.
Bên cạnh đó, khái niệm trợ giúp pháp lý tại Điều 3 chưa thể hiện được vai trò của Nhà nước với tư cách là chủ thể bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đối tượng chính sách và người có hoàn cảnh khó khăn khi có vướng mắc pháp luật. Trong khi đó, ngoài những chủ thể được quy định trong Luật trợ giúp pháp lý thì còn có một số tổ chức, cá nhân khác cũng đang sử dụng nguồn kinh phí của mình hoặc được các dự án, kinh phí khác hỗ trợ để thực hiện cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho các đối tượng khác nhau trong xã hội như các tổ chức sự nghiệp của Hội Luật gia, Liên đoàn Luật sư, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Bảo trợ tư pháp cho người nghèo Việt Nam…Chính vì vậy, khái niệm trợ giúp pháp lý nói riêng và pháp luật về trợ giúp pháp lý nói chung cần phải được nghiên cứu, tiếp cận và sửa đổi bổ sung cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm quốc tế. Pháp luật trợ giúp pháp lý - Khái niệm pháp luật trợ giúp pháp lý: Từ khái niệm chung về pháp luật, có thể nêu khái niệm pháp luật về trợ giúp pháp lý như sau: Pháp luật về trợ giúp pháp lý là tổng thể các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và hoạt 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động trợ giúp pháp lý cho người nghèo, người có công với cách mạng và những đối tượng khác theo quy định của pháp luật [56]. - Phạm vi điều chỉnh của pháp luật trợ giúp pháp lý Pháp luật về trợ giúp pháp lý quy định về nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý, chính sách trợ giúp pháp lý, quỹ trợ giúp pháp lý; người được trợ giúp pháp lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý, hoạt động trợ giúp pháp lý, quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý, khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp.Pháp luật về trợ giúp pháp lý áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý.
Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó. Luật Trợ giúp pháp lý đã quy định, trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của luật này. Luật quy định người được trợ giúp pháp lý là người nghèo, người có công với cách mạng, người già cô đơn, người tàn tật và trẻ em không nơi nương tựa, người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Trước đó, theo Quyết định số 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ thành lập Cục Trợ giúp pháp lý thuộc Bộ Tư pháp để giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý Nhà nước về trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo và các đối tượng chính sách[5] thì người được trợ giúp pháp lý là người nghèo và các đối thượng chính sách.
Như vậy, các quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý cũng đã có sự thay đổi theo thời gian cũng như thay đổi khi điều kiện kinh tế xã hội có sự thay đổi. Bên cạnh đó, mặc dù không phải là những văn bản pháp luật quy định cụ thể về lĩnh vực trợ giúp pháp lý nhưng các văn bản này lại có những quy định có liên quan trực tiếp đến những đối tượng mà luật điều chỉnh và qua đó có dẫn chiếu đến quyền lợi được trợ giúp pháp lý như Luật phòng chống mua bán người, Luật phòng chống bạo lực gia đình, Luật phòng chống ma 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com túy…Theo quy định của các văn bản pháp luật này, các đối tượng là nạn nhân của bạo lực gia đình, nạn nhân của việc mua bán người, những người đang bị nhiễm HIV…thì ngoài các quyền lợi được Nhà nước bảo hộ quyền công dân, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp khác thì họ còn có quyền được trợ giúp pháp lý miễn phí theo quy định của pháp luật. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý là những tổ chức được nhà nước giao cho nhiệm vụ thực hiện trợ giúp pháp lý. Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 quy định các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý là Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý, bao gồm:Tổ chức hành nghề luật sư; Tổ chức tư vấn pháp luật thuộc tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp.
Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước được thành lập theo đơn vị hành chính cấp tỉnh, tức là mỗi Ủy ban Nhân dân tỉnh thành phố trực thuộc trung ương thì sẽ quyết định thành lập Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước của tỉnh, thành phố đó, Trung tâm này là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, được đảm bảo bằng nguồn ngân sách nhà nước. Tổ chức hành nghề luật sư là tổ chức thành lập theo Luật Luật sư, có thể do một hoặc nhiều luật sư thành lập, kinh phí hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư là do tự các luật sư phải chi trả. Tổ chức tư vấn pháp luật thuộc tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp là tổ chức do Tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp thành lập như Hội Nông dân Việt Nam, Hội Phụ nữ Việt Nam, Hội Luật gia Việt Nam, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Liên đoàn Luật sư Việt Nam.Tổ chức tư vấn pháp luật này khi được thành lập thì nhà nước không đảm bảo nguồn kinh phí hoạt động mà nguồn kinh phí hoạt động do các tổ chức tư vấn pháp luật tự trang trải. Người thực hiện trợ giúp pháp lý là Trợ giúp viên pháp lý, Cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, Luật sư, Tư vấn viên pháp luật làm việc trong tổ chức tư vấn pháp luật.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Hệ thống các văn bản pháp luật về trợ giúp pháp lý ở Việt Nam hiện nay Pháp luật về trợ giúp pháp lý hiện hành gồm có các văn bản quy phạm pháp luật sau đây: (1) Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội khoá XI thông qua tại kỳ họp thứ 9 ngày 29/6/2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007; (2) Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 3ngày 20/6/2017 và sẽ có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 01/01/2018 (3) Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/1/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý; (4) Quyết định số 792/QĐ-TTg ngày 23/06/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Quy hoạch mạng lưới Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước và Chi nhánh của Trung tâm giai đoạn 2008-2010, định hướng đến năm 2015”; (5) Quyết định số 84/2008/QĐ-TTg ngày 30/6/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Quỹ trợ giúp pháp lý Việt Nam. (6) Quyết định số 03/2007/QĐ-BTP ngày 01/6/2007 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành một số biểu mẫu dùng trong hoạt động trợ giúp pháp lý. (7) Quyết định số 02/2008/QĐ-BTP ngày 01/6/2007 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành Quy chế mẫu tổ chức và hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước.
(8) Quyết định số 05/2008/QĐ-BTP ngày 13/5/2008 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quy chế Cộng tác viên trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và các văn bản quy phạm pháp luật khác.