Chương 1: Những vấn đề lý luận về hòa giải tranh chấp dân sự ở Việt Nam. Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về hòa giải tranh chấp dân sự Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả hoạt động hòa giải tranh chấp dân sự. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP DÂN SỰ Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm tranh chấp dân sự và hòa giải tranh chấp dân sự 1.
Tranh chấp dân sự và giải quyết tranh chấp dân sự Xã hội hiện đại ngày càng xuất hiện nhiều mối quan hệ phức tạp, luôn tiềm ẩn và không thể tránh khỏi những mâu thuẫn, bất hòa. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những mâu thuẫn, bất hòa đó nhưng nguyên nhân chủ yếu là do một trong các bên cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm. Khi đó xung đột giữa các bên sẽ xảy ra hay nói đúng hơn là giữa các bên có tranh chấp. Vậy, "tranh chấp" nói chung được hiểu là sự bất đồng, mâu thuẫn về quyền lợi và nghĩa vụ phát sinh giữa các bên liên quan.
Trong cuộc sống hàng ngày, việc xảy ra mâu thuẫn, xung đột trong giao lưu dân sự là điều không thể tránh khỏi. Tranh chấp phát sinh từ nhiều quan hệ xã hội khác nhau như quan hệ dân sự, quan hệ hôn nhân và gia đình, quan hệ kinh doanh, thương mại, hay quan hệ lao động. "Tranh chấp dân sự" là tranh chấp giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự, chịu sự điều chỉnh của luật dân sự. Phổ biến có các loại tranh chấp dân sự sau: tranh chấp về quyền sở hữu, về hợp đồng dân sự, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng… Có nhiều phương thức giải quyết tranh chấp khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh và hình thức giải quyết mà các bên tìm kiếm.
Những phương thức giải quyết tranh chấp này bao gồm: hòa giải, thương lượng, trọng tài, tố tụng tại Tòa án và các hình thức khác. Phương thức thương lượng: Thương lượng là phương thức giải quyết đầu tiên trong quá trình giải quyết tranh chấp, thể hiện ở việc các bên trong tranh chấp chủ động gặp gỡ nhau, bàn bạc, thỏa thuận về quyền lợi cũng như nghĩa vụ của mỗi bên. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Pháp luật về giải quyết tranh chấp không có quy định bắt buộc các bên phải tiến hành thương lượng. Do đó, từ quy trình tổ chức, thực hiện, sự có mặt của các bên, quyền lợi cũng như nghĩa vụ của các chủ thể, kết quả thương lượng không hề có sự điều chỉnh của quy phạm pháp luật.
Tất cả đều phụ thuộc vào thiện chí tự giải quyết của các bên. Trường hợp đạt được thỏa thuận trong cuộc họp thương lượng, sau đó có một trong các bên không tuân thủ, các bên cũng không thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện cưỡng chế. Phương thức thương lượng rất được các chủ thể ưu tiên lựa chọn ngay khi xảy ra tranh chấp, bởi phương thức này không chịu sự điều chỉnh của pháp luật, không bị gò bó bởi các quy định chặt chẽ về quy trình tổ chức thương lượng, thành phần tham gia, thời gian thực hiện, cũng như không tốn kém tiền bạc. Do sự tự giải quyết với nhau, nên tranh chấp không bị làm lớn, không ảnh hưởng đến uy tín của các bên.
Cũng bởi không có sự điều chỉnh của quy phạm pháp luật nên không có sự cưỡng chế thi hành đối với kết quả thương lượng. Phương thức trọng tài: Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp không thể thiếu trong quá trình phát triển của các quan hệ kinh tế và được các chủ thể ưa chuộng. Phương thức trọng tài do chính các bên trong tranh chấp thỏa thuận lựa chọn, nhưng sẽ được tiến hành theo quy trình pháp luật quy định. Trong phương thức trọng tài sẽ có một Hội đồng trọng tài hoặc trọng tài viên với tư cách là một bên trung gian, độc lập nhằm giải quyết các mẫu thuẫn, tranh chấp bằng việc đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên.
Ưu điểm của phương thức giải quyết tranh chấp này là có tính linh hoạt, tạo quyền chủ động cho các bên, tính nhanh chóng, tiết kiệm được thời gian có thể rút ngắn thủ tục tố tụng trọng tài và đảm bảo bí mật. Trọng tài tiến 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hành giải quyết tranh chấp theo nguyên tắc án, quyết định trọng tài không được công bố công khai rộng rãi. Theo nguyên tắc này, các bên có thể giữ được bí mật kinh doanh cũng như danh dự, uy tín của mình. Phán quyết của trọng tài có tính chung thẩm, đây là ưu thế vượt trội so với hình thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hòa giải.
Sau khi trọng tài đưa ra phán quyết thì các bên không có quyền kháng cáo trước bất kỳ một tổ chức hay tòa án nào. Đồng thời, phán quyết của trọng tài có tính bắt buộc thi hành với các bên. Khi đã hết thời hạn tự nguyện thi hành nhưng có một trong các bên không thực hiện, bên còn lại có quyền gửi đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự cưỡng chế thi hành phán quyết của trọng tài. Tuy nhiên giải quyết bằng phương thức trọng tài đòi hỏi chi phí tương đối cao, vụ việc kéo dài thì chi phí trọng tài cũng cao.
Việc thi hành phán quyết của trọng tài không phải lúc nào cũng thuận lợi, trôi chảy. Phương thức tố tụng tại Tòa án: Tố tụng tại Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp truyền thống nhất và cũng hiệu quả nhất. Đây là phương thức có sự tham gia giải quyết của đại diện quyền lực nhà nước là TAND. Vì vậy quy trình giải quyết tranh chấp phải tuân thủ quy định chặt chẽ của pháp luật tố tụng.
Đồng thời, bản án, quyết định của Tòa án được đảm bảo thi hành bằng hệ thống cơ quan thi hành án của nhà nước. Trong thực tiễn pháp lý, khi các phương thức thương lượng, hòa giải, trọng tài không đem lại kết quả, các chủ thể mới lựa chọn đến Tòa án giải quyết, bởi tính rườm rà, phức tạp, thiếu linh hoạt của quy trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án. So với các phương thức giải quyết tranh chấp trên thì hòa giải là phương thức có nhiều ưu điểm hơn: Thứ nhất, hòa giải có thể được tiến hành trong nhiều môi trường khác nhau, thủ tục có thể được thỏa thuận và điều chỉnh cho thích nghi. Tính linh 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoạt đem lại lợi thế là các bên được bày tỏ ý kiến xem quá trình nào thì phù hợp với họ; cho phép có những điều chỉnh khi bản chất của tranh chấp và các bên tranh chấp đòi hỏi phải vậy; tránh khả năng về việc có những yêu cầu về thủ tục kỹ thuật quá phức tạp.
Ngược lại, phương thức tố tụng Tòa án có một cách thức tổ chức cứng nhắc hơn, có những quy định và thủ tục cố hữu. Có một vài yếu tố mang tính kỹ thuật đòi hỏi rất cao, buộc các bên phải nghiêm chỉnh chấp hành cả trong thời gian trước và đang diễn ra quá trình xét xử. Một sự khác biệt quan trọng giữa hòa giải và tố tụng là những thông tin và chứng cứ nào có thể được sử dụng, sử dụng và kiểm chứng như thế nào. Trong tố tụng, vấn đề này được điều chỉnh theo quy định về chứng cứ và thủ tục để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy.
Trong hòa giải thường không có quy định nào về chứng cứ và cũng không có quy định về kiểm chứng cũng như xem xét về mặt thủ tục. Chỉ có những quy định thủ tục mở về phương pháp nói chuyện và giao tiếp. Các bên tranh chấp được phép kể chuyện của họ nếu thấy phù hợp và có thể biểu lộ tình cảm mà không bị bài bác và bị cho là không có ý nghĩa.Tuy nhiên cũng có những giới hạn đối với tính linh hoạt của hoạt động hòa giải. Mặc dù nó không phải là một quá trình cứng nhắc, nhưng khi các Hòa giải viên hướng dẫn, các bên vẫn phải có sự thống nhất cao trong các giai đoạn khác nhau.
Các Hòa giải viên phải thực hiện một cách có hệ thống qua từng giai đoạn của hoạt động hòa giải theo trình tự cụ thể. Điều này giúp khai thác được từng điểm mạnh trong toàn bộ quá trình hòa giải, vì mỗi một giai đoạn trong quá trình đó đều có cái lý lẽ riêng của nó. Vì thế, mặc dù có sự linh hoạt, nhưng hòa giải mang tính tổ chức hơn so với những cuộc đàm phán có tính chất tùy tiện. Một trong những đóng góp của một Hòa giải viên là có thể xác lập trật tự trong những cuộc đàm phán vô tổ chức và thiếu thống nhất.
Thứ hai, trong hòa giải, các bên tranh chấp có thể nói chuyện, trao đổi, đàm phán và thảo luận về các giải pháp trong toàn bộ quá trình. Quá trình hòa giải tạo cơ hội cho mỗi bên bày tỏ quan điểm của mình về tranh chấp. Sự 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tham gia trực tiếp của các bên tranh chấp trong hòa giải là rất cần thiết vì nó đề cao được tinh thần trách nhiệm của các bên đối với các lựa chọn của mình. Không một phương thức giải quyết tranh chấp nào có thể đảm bảo sự tham gia trực tiếp của các bên được như phương thức hòa giải, các bên đánh giá rất cao "quyền tự quyết" của phương thức này dù tranh chấp chưa được giải quyết.
Bảo đảm được bí mật, ít ảnh hưởng đến hoạt động của cá nhân, pháp nhân. Thứ ba, khi đưa ra quyết định, Tòa án và các trọng tài viên đều dựa vào các quy phạm pháp luật, nghĩa là các quy tắc và nguyên tắc được quy định trong các đạo luật. Trong hòa giải, các bên không viện dẫn các quy phạm để định hướng giải quyết, nhưng các quy phạm lại có thể được các bên rút ra từ chính kết quả giải quyết vụ việc. Thứ tư, hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp dân sự hiệu quả, nhanh nhất, đơn giản nhất, ít tốn kém nhất (tiết kiệm được nhân lực, chi phí, thời gian).
Hòa giải là sự lựa chọn được ưu tiên trong giải quyết tranh chấp bởi tính nhanh gọn, hiệu quả bền vững, củng cố được mối quan hệ tình cảm giữa con người với con người. Hòa giải tranh chấp dân sự Hòa giải là một phương thức giải quyết tranh chấp truyền thống và phổ biến trong đời sống xã hội. Trong khoa học pháp lý, hòa giải được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau.