Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÌNH PHẠT TỬ HÌNH 1. KHÁI NIỆM HÌNH PHẠT TỬ HÌNH VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH HÌNH PHẠT TỬ HÌNH TRONG HỆ THỐNG HÌNH PHẠT 1. Khái niệm hình phạt tử hình Trong tất cả các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm, hình phạt là biện pháp nghiêm khắc nhất, được áp dụng phổ biến và có lịch sử lâu đời nhất. Hình phạt luôn được coi là công cụ hữu hiệu để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức và công dân như C.
Mác đã từng nói: “Hình phạt không phải là một cái gì khác ngoài phương tiện để tự bảo vệ mình của xã hội chống lại sự vi phạm các điều kiện tồn tại của nó” [57, tr. Trong khoa học luật hình sự và thực tiễn pháp lý có những quan điểm khác nhau về khái niệm hình phạt, trong đó nổi lên hai quan điểm chủ yếu: Quan điểm thứ nhất cho rằng, hình phạt là công cụ để trả thù người phạm tội. Đây là quan điểm phổ biến ở những nước phương Tây thế kỷ thứ 18, 19. Hình phạt theo quan điểm này rất hà khắc, mang tính nhục hình, đầy đọa thể xác, chà đạp lên phẩm giá của con người.
Quan điểm thứ hai cho rằng, hình phạt là công cụ đấu tranh phòng, chống tội phạm. Đây là quan điểm của những nhà luật học tiến bộ trên thế giới và được TS. Uông Chu Lưu, cố TS. Nguyễn Đức Tuấn ủng hộ [57, tr.
Theo quan điểm này, ngoài mục đích trừng trị người phạm tội, hình phạt còn là công cụ hữu hiệu cải tạo, giáo dục người phạm tội trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội. Trong BLHS năm 1999, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam, định nghĩa pháp lý của khái niệm hình phạt được quy định tại Điều 26: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hình phạt được quy định trong BLHS và do Tòa án quyết định”. Từ khái niệm trên, có thể rút ra những đặc điểm của hình phạt như sau: Thứ nhất, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước.
Trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước, có nhiều loại biện pháp cưỡng chế khác nhau như biện pháp cưỡng chế hành chính, biện pháp cưỡng chế dân sự, biện pháp cưỡng chế kinh tế, biện pháp cưỡng chế lao động, biện pháp cưỡng chế hình sự (hình phạt, các biện pháp tư pháp, các biện pháp pháp lý hình sự khác). Trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế này, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất. Tính nghiêm khắc của hình phạt thể hiện ở chỗ người bị kết án bị tước bỏ hoặc bị hạn chế quyền tự do, quyền về tài sản, về chính trị, tinh thần, thậm chí bị tước đi cả quyền sống. Ngoài ra, hình phạt còn để lại hậu quả pháp lý là án tích cho người bị kết án.
Nói cách khác, trừng trị là nội dung, bản chất và là thuộc tính của hình phạt. Khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội, Nhà nước thể hiện thái độ phản ứng chính thức, lên án hành vi phạm tội và người phạm tội. Tính nghiêm khắc của hình phạt được các Nhà nước quy định không giống nhau, mà phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, đạo đức, tâm lý và truyền thống của mỗi nước. Thứ hai, hình phạt được quy định trong BLHS và do Tòa án áp dụng.
Trong các BLHS năm 1985 và 1999, hình phạt được quy định cả trong Phần chung và Phần các tội phạm. Phần chung của BLHS quy định những vấn đề có tính nguyên tắc như: khái niệm hình phạt (Điều 26), mục đích của hình phạt (Điều 27), các hình phạt (Điều 28), cảnh cáo (Điều 29), phạt tiền (Điều 30), cải tạo không giam giữ (Điều 31), trục xuất (Điều 32), tù có thời hạn (Điều 33), tù chung thân (Điều 34), tử hình (Điều 35). Phần các tội 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phạm của BLHS quy định các loại hình phạt và mức hình phạt đối với từng tội phạm cụ thể. Trong mọi trường hợp không được áp dụng hình phạt đối với người thực hiện hành vi mà BLHS không quy định là tội phạm và cũng không được áp dụng loại, mức hình phạt nào đó, nếu hình phạt này không được quy định trong BLHS.
Ngoài ra, chỉ có Tòa án là cơ quan nhà nước duy nhất có quyền tuyên bố một người là có tội và áp dụng hình phạt đối với người đó. Các cơ quan tiến hành tố tụng khác như cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không có quyền áp dụng hình phạt mà chỉ có quyền đề xuất với Tòa án. Thứ ba, hình phạt chỉ có thể áp dụng đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội. Một trong những nguyên tắc được thừa nhận của luật hình sự Việt Nam hiện nay là trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra đối với cá nhân người phạm tội, trách nhiệm hình sự không được đặt ra đối với pháp nhân phạm tội.
Dựa trên nguyên tắc này, trách nhiệm hình sự không thể được áp dụng đối với các thành viên trong gia đình cũng như đối với những người thân khác của người phạm tội. Cũng theo nguyên tắc này, luật hình sự Việt Nam không thừa nhận việc chấp hành án thay cho người phạm tội, cho dù sự chấp hành án thay này là hoàn toàn tự nguyện. Hình phạt tịch thu tài sản cũng chỉ được áp dụng đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của người phạm tội mà không được tịch thu tài sản của các thành viên khác trong gia đình hay của những người thân khác của người phạm tội. Ngoài ba đặc điểm trên, hình phạt còn có tính giai cấp.
Tính giai cấp của hình phạt được quy định bởi bản chất giai cấp của Nhà nước. Tùy thuộc vào nhiệm vụ của luật hình sự bảo vệ lợi ích của giai cấp nào, mà có thể xác định bản chất giai cấp của hình phạt. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ định nghĩa pháp lý của khái niệm hình phạt đã nói ở trên, có thể đưa ra định nghĩa của khái niệm hình phạt tử hình như sau: tử hình là hình phạt đặc biệt, tước bỏ quyền sống của người bị kết án, chỉ có thể áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Do tử hình là một loại hình phạt trong hệ thống hình phạt theo luật hình sự Việt Nam, cho nên, tử hình cũng có đầy đủ những đặc điểm của hình phạt như đã phân tích ở trên.
Ngoài ra, tử hình còn có một số đặc điểm mà chỉ hình phạt này mới có như sau: Thứ nhất, tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt, tước đi quyền sống của người bị kết án. Quyền sống là quyền tự nhiên quan trọng nhất của con người. Hình phạt tử hình tước đi quyền sống của người bị kết án, do vậy, tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt. Tử hình là một trong những hình phạt có lịch sử lâu đời, nhưng xung quanh nó, dưới góc độ lý luận luật hình sự, còn có những ý kiến khác nhau, trong đó nổi lên hai quan điểm trái ngược nhau về việc nên duy trì hay hủy bỏ hình phạt này.
Những người theo quan điểm đòi phải hủy bỏ hình phạt tử hình cho rằng, sự sống của con người là cái quý giá nhất mà tạo hóa ban cho, con người không nên sử dụng pháp luật để tước đi cái đó. Ngoài ra, họ còn lập luận rằng, Tòa án có thể mắc sai lầm trong việc quyết định hình phạt tử hình, mà khi đã thi hành xong hình phạt tử hình, thì không thể sửa chữa được nữa. Những người theo quan điểm duy trì hình phạt tử hình, thì cho rằng, để đảm bảo an ninh cho xã hội, cần thiết phải duy trì hình phạt tử hình đối với những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng [45, tr. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ hai, tử hình là hình phạt không đặt ra mục đích giáo dục, cải tạo người bị kết án.
Theo quan điểm được thừa nhận rộng rãi ở nước ta, hình phạt tử hình không đặt ra mục đích giáo dục, cải tạo người bị kết án, bởi vì tính chất đặc biệt nghiêm trọng của hành vi phạm tội và những đặc điểm nhân thân của người phạm tội đã phủ nhận khả năng thực hiện mục đích đó. Việc quy định và áp dụng hình phạt tử hình nhằm “loại bỏ hoàn toàn khả năng thực hiện tội phạm” ở người bị kết án, có tác dụng răn đe những người không vững vàng dễ sa vào con đường phạm tội, đồng thời động viên nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm [47, tr. Thứ ba, không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Người chưa thành niên, phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi phạm tội là những đối tượng đặc biệt của chính sách hình sự của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
Quy định tại Điều 35 BLHS năm 1999 chủ yếu xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự. Những đặc điểm tâm - sinh lý của người chưa thành niên, phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi có ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng nhận thức, điều khiển hành vi, khả năng giáo dục, cải tạo của họ và đây cũng là điều được các nhà làm luật quan tâm đến. Trong luật hình sự Việt Nam, ngoài hình phạt tử hình, chỉ có hình phạt tù chung thân được quy định không áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, còn các hình phạt khác đều không có đặc điểm này. Ý nghĩa của việc quy định hình phạt tử hình trong hệ thống hình phạt 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hệ thống pháp luật là một chỉnh thể thống nhất được cấu thành bởi các ngành luật khác nhau; gắn liền với các ngành luật đó là những biện pháp trách nhiệm pháp lý với những chế tài cụ thể khác nhau.
Gắn liền với luật hình sự là các biện pháp pháp lý hình sự, trong đó có hình phạt. Hệ thống hình phạt là tổng thể các loại hình phạt do Nhà nước quy định trong luật hình sự, có sự liên kết chặt chẽ với nhau theo một trật tự nhất định được quy định bởi tính chất nghiêm khắc của từng loại hình phạt.