Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA CÁC TỔ HỢP TÁC VÀ CÁC HỢP TÁC XÃ CHÈ 1. Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế - xã hội của các tổ hợp tác và các hợp tác xã chè 1. Lý luận về tổ hợp tác chè, hợp tác xã chè 1. Khái niệm tổ hợp tác chè, hợp tác xã chè * Tổ hợp tác chè Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, hình thức sản xuất theo quy mô hộ gia đình khó đáp ứng được nhu cầu thị trường, do quy mô sản xuất quá nhỏ bé.
Ví vậy, nhu cầu hợp tác giữa các hộ gia đình xuất hiện và trở thành cấp thiết. Một số hộ tự nguyện liên kết, hợp tác với nhau để cùng tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh (hình thức tổ hợp tác) trên cơ sở tự nguyện và cùng có lợi. Theo Bộ luật dân sự năm 2015, thì pháp luật quy định về tổ hợp tác như sau: "Tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn của từ ba cá nhân trở lên, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm là chủ thể trong các quan hệ dân sự”. [8] Như vậy, Tổ hợp tác chè là 1 hình thức tổ chức kinh tế mà trong đó có ít nhất 3 cá nhân sản xuất và kinh doanh chè liên kết lại với nhau tạo ra sự tương hỗ lẫn nhau về vốn, về lao động, tạo điều kiện tăng thêm sức cạnh tranh của hộ trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh thông qua Hợp đồng hợp tác kinh tế.
Thông qua liên kết, các hộ dân sản xuất kinh doanh chè tạo ra sự tương hỗ lẫn nhau trong việc thực hiện các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện tăng thêm sức mạnh của hộ gia đình trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. c 6 Tuy nhiên, hình thức này các mối liên kết rất lỏng lẻo không cố định, không có tính chất cụ thể và chưa có pháp nhân. Vì vậy, cần có liên kết chặt chẽ hơn và có pháp nhân đảm bảo liên kết hiệu quả mà vẫn đảm bảo quyền bình đẳng cho các hộ dân. * Hợp tác xã chè Trước đây, trong thời kỳ tập trung quan liêu bao cấp, HTX là hình thức tổ chức chính của nông thôn Việt Nam được thiết lập trên cơ sở tập thể hóa tư liệu sản xuất, xóa bỏ quyền sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất của người nông dân, thiết lập phương thức sản xuất tập thể.
Tuy nhiên phương thức này mang nặng tính bình quân, bao cấp và công bằng giả tạo. Vì vậy, phương thức này đã triệt tiêu động lực của xã viên và không kích thích trong sản xuất. Khi nền kinh tế thị trường phát triển, mô hình HTX kiểu cũ không còn phù hợp, thay vào đó là mô hình HTX kiểu mới ra đời dựa trên cơ sở hợp tác của chủ thể kinh tế tự chủ. Luật HTX ra đời năm 2003 và luật HTX năm 2012 thay thế luật Hợp tác xã số 18/2003/QH12 đã tạo khuôn khổ pháp lý rất cơ bản cho sự vận động và phát triển HTX trong điều kiện kinh tế thị trường.
Theo Luật Hợp tác xã năm 2012 “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã” [14]. Hình thức HTX đã kết hợp được lợi ích cá nhân và tập thể. Trong quan hệ hợp tác này, sở hữu tư nhân không bị xóa bỏ, họ vẫn là chủ thể độc lập, có kinh tế riêng. Vốn góp của các thành viên được chia hàng năm và được rút ra khi ra khỏi HTX.
Như vậy, Hợp tác xã chè là 1 hình thức tổ chức kinh tế mà trong đó có ít nhất 7 cá nhân sản xuất và kinh doanh chè liên kết lại với nhau tạo ra sự tương hỗ lẫn nhau về vốn, về lao động, giúp đỡ nhau trong sản xuất, tiêu c 7 thụ sản phẩm và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu chung của các thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ. Đặc điểm của tổ hợp tác chè, hợp tác xã chè * Đặc điểm tổ hợp tác chè: - Các thành viên tham gia tổ hợp tác gọi là Tổ viên tổ hợp tác. Tổ viên tổ hợp tác là các cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có hoạt động sản xuát và kinh doanh chè. Quyền và nghĩa vụ của tổ viên tổ hợp tác do các bên thỏa thuận hoặc do quy định của pháp luật.
- Quyền và nghĩa vụ của các tổ viên tổ hợp tác chè trong các giao dịch do các bên thỏa thuận hoặc do quy định quy định của pháp luật. Các bên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở của cả tổ hợp tác. - Các cá nhân tham gia tổ hợp tác chè ký hợp đồng hợp tác kinh tế tại cơ quan nhà nước cấp Xã nhằm ràng buộc với nhau về mức đóng góp, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của tổ trưởng và các tổ viên, điều kiện nhận tổ viên mới và ra khỏi tổ hợp tác, điều kiện chấm dứt tổ hợp tác, và các thỏa thuận khác theo Thông tư số 04/2008/TT-BKH, hướng dẫn một số quy định tại Nghị Định số 151/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2007 của Chính Phủ về tổ chức và hoạt động của Tổ Hợp Tác. * Đặc điểm của Hợp tác xã chè: - Hợp tác xã chè là một tổ chức kinh tế, được thành lập để tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh chè cho một nhóm cá nhân (ít nhất 07 thành viên) nhằm mục đích hỗ trợ nhau về vốn, lao động, thị trường,.
- HTX chè là một tổ chức kinh tế có đặc trưng thường gắn với hộ nông dân sản xuất và kinh doanh chè. Hợp tác xã chè là tổ chức kinh tế mang tính xã hội cao để đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng của các thành viên về sản c 8 xuất, kinh doanh chè. Các thành viên gia nhập hợp tác xã chè vì họ cần được hợp tác xã phục vụ, cần hợp tác xã trợ giúp những việc mà họ không thể tự làm hoặc làm một mình không có hiệu quả, khắc phục được những nhược điểm và hạn chế khi sản xuất kinh doanh đơn lẻ. - Mục tiêu của hợp tác xã chè là phục vụ nhu cầu, lợi ích chung của từng thành viên, không vì lợi nhuận.
Như vậy, hợp tác xã chè là một tổ chức kinh tế mang tính hợp tác có tính xã hội sâu sắc, hỗ trợ các thành viên tăng cạnh tranh trong kinh tế thị trường. - Hợp tác xã chè là một tổ chức dân chủ, xã hội cao của nông dân, trong đó các thành viên được bình đẳng, phát huy vai trò của cộng đồng dân cư trong quản lý xã hội, kinh doanh. - Đối tượng tham gia hợp tác xã chè bao gồm tất cả những người nông dân sản xuất và kinh doanh chè, và pháp nhân. Khi tham gia hợp tác xã chè, các thành viên hợp tác xã bắt buộc phải góp vốn, còn việc góp sức là tuỳ thuộc vào từng loại hình hợp tác xã, vào yêu cầu của hợp tác xã và nguyện vọng của thành viên, không bắt buộc thành viên phải góp sức.
Việc thành lập hợp tác xã chè dựa trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, xuất phát từ nhu cầu, lợi ích chung, các thành viên liên kết lại với nhau để phát huy sức mạnh tập thể của từng thành viên, cùng giúp đỡ lẫn nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của từng thành viên. - Hợp tác xã chè có tư cách pháp nhân và chỉ chịu trách nhiệm trả nợ trong giới hạn vốn điều lệ, vốn tích lũy và các nguồn vốn khác của hợp tác xã tại thời điểm tuyên bố phá sản thành viên cũng chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ trong phạm vi vốn góp của mình. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác chè và hợp tác xã chè Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác chè và hợp tác xã chè cũng phải tuân thủ nguyên tắc tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác và hợp tác xã theo Luật hợp tác xã năm 2012 và theo Nghị định 151/2007 của chính phủ. c 9 * Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tổ hợp tác Tại Điều 2 Nghị định số 151/2007/NĐ-CP về Tổ chức và hoạt động của Tổ hợp tác, quy định Nguyên tác tổ chức và hoạt động của Tổ hợp tác như sau: Nguyên tắc thứ nhất, “Tự nguyện, bình đẳng, dân chủ và cùng có lợi”.
Theo nguyên tắc này, mọi cá nhân tham gia THT trên tinh thần tự nguyên và bình đẳng như nhau, và vì mục đích chung là hỗ trợ lẫn nhau. Nguyên tắc thứ hai, “Biểu quyết theo đa số”. Theo quy định, mỗi THT có tối thiểu là 03 tổ viên, không giới hạn số lượng tối đa. Do vây, mọi hoạt động của THT được thực hiện theo nguyên tắc biểu quyết và theo số đông, không phụ thuộc vào số lượng vốn góp hay tài sản đóng góp của các tổ viên THT.
Nguyên tắc thứ ba, “Tự chủ tài chính, tự trang trải các chi phí hoạt động và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của tổ và các tổ viên”. THT hoạt động phải tự chủ về các khoản tài chính, tự trang trải các khoản chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh của THT, chịu tách nhiệm bằng tài sản của tổ và của các tổ viên. Tại Điều 7 Luật Hợp tác xã 2012 quy định về nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Hợp tác xã như sau: Nguyên tắc thứ nhất, “Cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân tự nguyện thành lập, gia nhập, ra khỏi hợp tác xã”.