mở đầu cho một chặng đường mới của đất nước trên tất cả mọi phương diện nhưng dân tộc ta vẫn phải trải qua nhiều khó khăn thử thách do hậu quả của chiến tranh để lại. Do cơ chế bao cấp kéo dài rồi chuyển sang giai đoạn đổi mới, nền kinh tế thị trường bắt đầu phát triển khiến cho mối quan hệ giữa con người với con người cũng có những thay đổi khác với thời kì trước. Nếu như trong thời kì kháng chiến chống Mỹ, con người luôn hướng tới cái chung, sống đùm bọc yêu thương, đồng lòng, góp sức vì sự nghiệp chung giải phóng đất nước thì đến thời kì này mối quan hệ giữa con người với con người trở nên phức tạp, đa diện. Người 10 c lính vừa bước ra khỏi chiến trường với bao vinh quang của thế hệ cống hiến, hi sinh vì đất nước thì giờ đây bản thân họ nhiều khi cảm thấy lạc lõng giữa cuộc sống đời thường.
Sau năm 1975, thơ ca Việt Nam có những chuyển động mạnh mẽ và đa dạng, phong phú cả về nội dung và hình thức. Thơ không còn chỉ tập trung trong nội dung chiến đấu và xây dựng như thời trước năm 1975 nữa mà dường như thơ diễn tả mọi lĩnh vực của đời sống, phản ánh sự phong phú nhưng cũng vô cùng bề bộn và phức tạp hiện thực đời thường. Công cuộc đổi mới của Đảng vào năm 1986 ở nước ta là sự kiện chính trị và xã hội có ý nghĩa quan trọng. Sau ba mươi năm chiến tranh, mười năm hậu chiến, cuộc sống hòa bình và cơ chế thị trường đưa con người Việt Nam trở về với quỹ đạo bình thường của cuộc sống mưu sinh.
Xu hướng dân chủ hóa, ý thức cá nhân và cơ chế thị trường,… đã tác động sâu sắc đến đời sống vật chất và tinh thần của con người. Chính điều này đã thúc đẩy sự đổi mới văn học nói chung và thơ ca nói riêng. Nhà phê bình Đỗ Lai Thuý đã khẳng định: “Nếu xét như một hệ thống thể loại, thì thơ bao giờ cũng là một thể loại mạnh, luôn chiếm ngôi vị đầu bảng. Khác với văn xuôi, thơ một phần gắn chặt hơn với những yếu tố tự nhiên trong con người như cảm xúc, trực giác, phần khác tư duy thơ lại thuộc tư duy lựa chọn, theo trục dọc, trục của không gian” [66, tr.
Sự chuyển biến của đời sống xã hội, văn hóa, tư tưởng đã dẫn đến nhu cầu đổi mới thơ ca, mà trước tiên là đổi mới quan niệm thẩm mĩ về hiện thực và con người. Sau năm 1975, thơ Việt Nam hội tụ nhiều thế hệ nhà thơ giàu nhiệt huyết sáng tạo. Bên cạnh những nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến vẫn tiếp tục cầm bút sáng tác như: Chế Lan Viên, Hoàng Cầm, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh,… xuất hiện lớp nhà thơ có tuổi đời còn trẻ như: Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Vi Thùy Linh, Trương Quế Chi, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Tuyết Nga, Chu Thị Thơm,. Họ đều cố gắng đi tìm những cách thức phong phú để thể hiện giọng điệu mới, phục vụ cho việc tái hiện chân thành cảm xúc tâm trạng và hiện thực đời sống.
Có những nhà thơ trẻ đã thể hiện lối nói mạnh bạo, thể hiện khát khao mãnh liệt gửi gắm trong thơ: “Trong bóng tối mới tinh, vẫn bài ca hoang dã Tôi ứa máu những câu thơ cầu siêu Rách cằm ngã đêm đơn độc …Làm đóa Linh mẫu đơn Nở tận cùng đến chết” (Vi Thùy Linh - Sinh năm 1980). 11 c Họ từ chối những khuôn mẫu sẵn có trong thơ, đưa vào những trang thơ của mình những cái hiện đại của đời sống để tạo ra những tứ thơ khác lạ: Ngoài đường cái quan xe rác chạy rầm rập đống lửa bao nilon đựng rác đôi tình nhân khét lẹt chàng thương binh ngực đầy huân chương vẫn hô một hai hành quân không chịu nghỉ nàng thất tình hoa mướp bồng áo bông ru hời (Phan Huyền Thư - Rỗng ngực) Cách tổ chức các hình ảnh thơ cùng với cấu trúc câu thơ, nhịp thơ và cảm xúc cho thấy Phan Huyền Thư đã khước từ những kinh nghiệm, quan niệm thẩm mĩ truyền thống, đưa những chất liệu mới vào thơ. Thơ lúc này được xem là thể loại tiên phong cho tâm hồn và nghệ thuật nhanh nhạy, đa dạng nhất, các nhà thơ ý thức được các bước ngoặt chuyển mình của đời sống xã hội và đời sống văn học. Như vậy, thơ sau năm 1975 đến nay đang tiếp tục phát triển trên con đường hiện đại hóa, hội nhập với thơ ca nhân loại.
Chính sự cách tân đổi mới trong thơ ca đã có những đóng góp vào văn hóa tinh thần dân tộc, làm phong phú, đa dạng thêm nền văn học Việt đương đại. Các nhà thơ đem đến cho tâm hồn con người Việt những cảm xúc, ẩn ức, lịch sử, hiện thực Việt, cùng những khao khát của con người đương thời để tạo nên những thành quả mới, giá trị mới. Những thay đổi trong cảm hứng sáng tác và hình thức biểu hiện Cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ đặt dân tộc ta trước những thử thách gay gắt, vận mệnh của đất nước, tự do và độc lập của dân tộc đứng trước nguy cơ một mất một còn. Trong những năm tháng đó, đời sống và số phận của mỗi người tất yếu phải gắn chặt với vận mệnh của đất nước, với cuộc chiến đấu của dân tộc.
Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, thơ đã trở thành tiếng nói chung của cả cộng đồng, phát ngôn cho ý chí, khát vọng, tình cảm chung rộng lớn và thống nhất của mọi người, của toàn dân tộc. Vì vậy, một trong những nguồn cảm hứng sáng tác của giai đoạn này là cảm hứng sử thi. Nguồn cảm hứng này tạo cho nhà thơ một chỗ đứng ở tầm cao để bao quát thời đại, lịch sử và cũng định hướng cho sự suy ngẫm, phát hiện, liên tưởng của nhà thơ trước mọi hiện tượng và vấn đề, kể cả đời sống riêng tư, cá nhân hay thế sự. Nhờ thế mà thơ kháng chiến chống Mỹ đã tạo dựng được nhiều hình tượng đẹp, kì 12 c vĩ, mới mẻ về đất nước, nhân dân, về cuộc chiến đấu của dân tộc mang tầm thời đại.
Cũng nhờ đó mà trong thơ thời kì này có nhiều phát hiện, liên tưởng, mở rộng và đào sâu ý nghĩa khái quát, biểu tượng của những chi tiết, hình ảnh hiện thực. Cảm hứng sử thi là yếu tố chủ đạo của thơ ca cách mạng. Thơ thời kì này thường thể hiện tiếng nói của cộng đồng, của dân tộc trước thử thách quyết liệt. Nhân vật trung tâm thường không thể hiện cái tôi cá nhân mà là cái tôi công dân đại diện cho giai cấp, dân tộc, thời đại, hội tụ những phẩm chất cao quý của cộng đồng.
Trong thơ thường xuất hiện hình tượng đẹp về người chiến sĩ cách mạng: Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất Nhưng anh gượng đứng lên tì súng trên gác trực thăng Và anh chết khi đang đứng bắn Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng Chợt thấy anh giặc hốt hoảng xin hàng Có thằng sụp xuống chân anh tránh đạn Bởi anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công (Lê Anh Xuân - Dáng đứng Việt Nam) Người chiến sĩ giải phóng quân hiện lên ở đầu bài thơ mang dáng dấp của những anh hùng thần thoại với các động tác: “ngã”, “tì”, “gượng”. Lê Anh Xuân đã kết hợp giữa hiện thực và lãng mạn, giữa chất sử thi và cảm hứng bay bổng để khắc hoạ dáng đứng Việt Nam anh hùng giữa chiến trường đầy bom đạn, sẵn sàng hi sinh bản thân mình vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, sự hi sinh thầm lặng mà cao cả. Cái tôi trữ tình sử thi chiếm một vị trí đáng kể trong cảm hứng và giọng điệu của hầu hết các nhà thơ chống Mỹ. Đất nước ta lúc này phải đương đầu với kẻ thù hung ác, hùng mạnh, nham hiểm nhất của thời đại và chính điều đó đã khiến cả dân tộc phải thống nhất muôn người như một: Những năm toàn đất nước có một tâm hồn có chung khuôn mặt Nụ cười tiễn đưa con, nghìn bà mẹ in nhau Những mắt sáng vì toàn dân tỉnh thức Dáng lao nhanh theo trận tuyến dời mau Núi Bắc sông Nam đều giống Bác Nhìn một người, ta nhìn ra cả nước … (Chế Lan Viên - Con mắt Bạch Đằng, con mắt Đống Đa) 13 c Nhà thơ nhìn Tổ quốc không phải bằng con mắt cá nhân mà bằng con mắt của lịch sử, của dân tộc, của thời đại, “Con mắt Bạch Đằng, Đống Đa”.
Đó là một cái nhìn mang tính sử thi hoành tránh. Với những đặc điểm này, tinh thần yêu nước, hành động anh hùng, phẩm chất ngời sáng thông qua sự thể hiện của cái tôi trữ tình sử thi đã mang tầm vóc khái quát: đó là chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Vì vậy, tình cảm yêu nước luôn được thể hiện trong trạng thái cảm xúc mãnh liệt nhất: Ôi Tổ quốc, ta yêu như máu thịt, Như mẹ cha ta, như vợ như chồng Ôi Tổ quốc, nếu cần, ta chết Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông. (Chế Lan Viên - Sao chiến thắng) Tình yêu Tổ quốc gắn liền với ý thức trách nhiệm của mỗi người.
Trữ tình - sử thi trở thành phương thức chủ đạo của thơ thời kỳ chống Mỹ. Cái tôi sử thi cũng chiếm một vị trí đáng kể trong cảm hứng và trong giọng điệu của nhiều nhà thơ thời chống Mỹ. Sức mạnh toàn dân tộc được soi chiếu bởi tầm nhìn sử thi. Sự nghiệp anh hùng trong những năm tháng hào hùng thời đánh Mỹ được nhà thơ Chế Lan Viên khái quát, cùng niềm tự hào: “Ta đánh giặc suốt ba mươi năm trời chẳng cần có ai thay/ Cả dân tộc không một ai làm quân dự bị” (Ngày vĩ đại).
Cái tôi sử thi có thể thấy rõ qua những câu thơ có tính chất tuyên ngôn của Xuân Diệu: Tôi cùng xương thịt với nhân dân tôi Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu Tôi sống với cuộc đời chiến đấu Của triệu người yêu dấu gian lao (Những đêm hành quân) Cái tôi sử thi đã đại diện cái ta cộng đồng, tiếng nói của cái tôi trữ tình có sức âm vang của tiếng nói chung, có sức thuyết phục của chân lí chung mang tính phổ biến. Cái tôi sử thi tạo cho nhà thơ tâm thế trữ tình cao rộng với tư cách là người phát ngôn cho cả nhân dân, cả dân tộc. Do vậy, những cái gì thuộc về cá nhân dường như thường ít được đề cập trong thơ.