Chương 1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KỆN ĐỊA LÝ NHÂN VĂN HẢI PHÒNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Khái quát điều kiện địa lý - nhân văn 1. Đặc điểm địa lý tự nhiên Hải Phòng là thành phố ven biển, nằm phía Đông miền duyên hải Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội 102 km, có tổng diện tích tự nhiên là 1520.7 km 2 (số liệu thống kê năm 2006) bao gồm: phần đồng bằng ven biển và phần biển – hải đảo. Ranh giới hành chính: phía Bắc giáp với tỉnh Quảng Ninh, phía Tây giáp tỉnh Hải Dương; phía Nam giáp tỉnh Thái Bình; phía Đông giáp biển Đông.
Vùng đất ven biển Hải Phòng gồm 8 quận huyện: Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Kiến Thụy, Thủy Nguyên, Cát Hải, Hải An và Đồ Sơn và các quận huyện khác. Các quận huyện này đều có địa hình thay đổi rất đa dạng phản ánh một quá trình lịch sử địa chất lâu dài và phức tạp. Phần phía Bắc của vùng đất ven biển có dáng dấp của một vùng trung du với những đồng bằng xen đồi. Phần phía nam thành phố có địa hình thấp và khá bằng phẳng của một vùng đồng bằng nghiêng ra biển.
Hầu hết các cánh đồng đều do phù sa của 5 dòng sông lớn bồi tụ, tạo ra những vùng đất ven biển với đầy đủ những đặc trưng điển hình của văn hóa cận duyên. Hải Phòng có mạng lưới sông ngòi dày đặc, mật độ trung bình từ 0,6 – 0,8 km trên 1 km2. Sông ngòi Hải Phòng đều là những chi lưu của sông Thái Bình đổ ra vịnh Bắc Bộ. Nếu ngược dòng ta sẽ thấy như sau: Sông Cầu bắt nguồn từ vùng núi Văn Ôn ở độ cao trên 1.170m thuộc Bắc Kạn, về đến Phả Lại thì hợp lưu với sông Thương và sông Lục Nam, là nguồn của sông Thái Bình chảy vào đồng bằng trước khi đổ ra biển với độ dài 97km và chuyển hướng chảy theo Tây Bắc - Đông Nam.
Từ nơi hợp lưu đó, các dòng sông chảy trên độ dốc ngày càng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 nhỏ, và sông Thái Bình tạo ra mạng lưới chi lưu các cấp như Văn Úc, Lạch Tray, sông Kinh Môn, Kinh Thầy, Đa Độ. đổ ra biển bằng 5 cửa sông chính. Bờ biển Hải Phòng có hướng một đường cong lõm của bờ vịnh Bắc Bộ, thấp v à khá bằng phẳng, cấu tạo chủ yếu là cát bùn do 5 cửa sông chính đổ ra. Trên địa hình giáp biển, mũi Đồ Sơn nhô ra như một bán đảo.
Đây là điểm nút của dải đồi núi chạy ra từ trong đất liền. Ưu thế về cấu trúc tự nhiên này đã tạo cho Đồ Sơn một vị trí chiến lược quan trọng trên mặt biển, đồng thời cũng là một thắng cảnh nổi tiếng. Dưới chân những đồi đá cát có bãi tắm, có nơi nghỉ mát và khu an dưỡng có giá trị. Ngoài khơi thuộc địa Hải Phòng có nhiều đảo rải rác trên khắp mặt biển, lớn nhất có đảo Cát Bà, xa nhất là đảo Bạch Long Vĩ.
Biển, bờ biển và hải đảo đã tạo nên cảnh quan thiên nhiên đặc sắc của thành phố duyên hải. Đây cũng là thế mạnh tiềm năng của nền kinh tế địa phương. Phần diện tích tính từ bờ biển vào sâu lục địa khoảng 20 km thì mới được coi là ven biển, trong khi đó diện tích tự nhiên của Hải Phòng ăn sâu vào lục địa tới 50km, có chỗ lên đến 68km thuộc về đất huyện An Lão. Quá trình nghiên cứu thực địa về truyền thuyết và lễ hội các nhân vật nữ ở Hải Phòng, tác giả tập trung nghiên cứu các nhân vật nữ gắn liền với đặc trưng vùng địa lí ven biển và cửa sông vùng ven biển.
Lịch sử Hải Phòng Sự hình thành và phát triển của Hải Phòng gắn kiền với các chứng tích của người tiền sử ở di chỉ khảo cổ học Cái Bèo (Cát Bà) thuộc văn hóa Hạ Long cách đây khoảng từ 4000 năm đến 6000 năm. Với sự hình thành của nền văn minh sông Hồng thuộc văn hóa Đông Sơn với các chứng tích của con người ở đi chỉ khảo cổ học Tràng Kênh (Thủy Nguyên), núi Voi (An Lão) cách ngày nay từ 2000 đến 3000 năm. Không những thế, Hải Phòng còn gắn liền với các truyền thuyết về tên tuổi nữ tướng Lê Chân, người lập trang An Biên vào hồi đầu công nguyên - cái nôi hình thành nên đô thị Hải Phòng ngày nay. Cho nên từ 4000 đến 6000 năm trước đây, vùng đất này đã có sự xuất hiện của con người.
Cư dân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 tập trung sinh sống chủ yếu ở vùng cửa sông Cấm, sông Tam Bạc, họ lập thành các làng chài ven biển. Theo tác giả Đinh Văn Nhật trong bài viết “Đất Hải Phòng với các huyện Câu Lậu, Kê Từ, An Định từ thế kỉ II đến thế kỉ VI” (Tạp chí Nghiên cứu lịch sử Hải Phòng, số 2/1986), thì phần đất cổ Hải Phòng vạch theo một đường kể từ mũi Đồ Sơn về Phủ Lý; phía Bắc giáp đường ranh giới là đất cổ còn nhiều vết tích các đền thờ các vị tướng của Hai Bà Trưng (năm 40 - 44 đầu Công nguyên). Phía nam đường ranh giới là đất bãi biển mới hình thành sau thế kỉ I của Công Nguyên. Hải Phòng là một vùng đất cổ nổi tiếng trong lịch sử do nữ tướng Lê Chân khai phá lập nên những trang ấp mới tại đây, theo truyền thuyết vì nhớ quê hương cũ Lê Chân đã lấy tên quê hương là An Biên (Đông Triều) để đặt tên cho vùng đất này là An Biên (Hải Phòng ngày nay).
Hai ngàn năm trước vùng đất Hải Phòng đã được hai Bà Trưng chọn làm tuyến phòng thủ bờ biển chống lại sựu đô hộ của phương Bắc. Theo truyền thuyết và các thư tịch cổ để lại, quá trình hình thành và phát triển của làng An Biên xưa gắn liền với sự nghiệp xây dựng và đánh giặc giữ nước của nữ tướng Lê Chân. Cái tên làng An Biên – hay còn gọi là Vẻn cũng có cả một hệ thống truyền thuyết quanh nó. Khu vực hồ An Biên bây giờ chính là trung tâm của làng An Biên xưa nơi người chủ thần của vùng đất đầu sóng ngọn gió là Lê Chân và dân chúng sống làm nghề chài lưới.
Thời kì độc lập tự chủ của các triều đại phong kiến Việt Nam, vùng đất này đã từng nổi tiếng với nhiều chiến công oanh liệt như: trận Bạch Đằng – năm 938 của Ngô Quyền, trận Bạch Đằng – năm 981 của Lê Hoàn, trận Bạch Đằng - năm 1288 của Trần Hưng Đạo. Đến triều đại Hậu Lê (Giai đoạn Lê Sơ), vùng này nằm trong xứ Hải Dương. Ở thời nhà Mạc, Hải Phòng là quê hương của các vị vua Mạc nên vùng này được chú ý xây dựng thành kinh đô thứ hai gọi là Dương Kinh. Sau đó từ nhà Lê Trung Hưng đến nhà Ngyễn, vùng này đều thuộc trấn Hải Dương và sau này là tỉnh Hải Dương (1831).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Trong quá trình nghiên cứu truyền thuyết và lễ hội về các nhân vật nữ của Hải Phòng, tác giả luận văn sẽ tập trung nghiên cứu các truyền thuyết ở những địa danh gắn liền với lịch sử đấu tranh bảo vệ dân tộc và các địa danh ven biển với phong tục thờ nữ thần biển của người dân vùng biển. Môi trường xã hội nhân văn Căn cứ vào kết quả nghiên cứu ngành khảo cổ học và truyền thuyết dâm gian, miền đất Hải Phòng ngày nay từ đất liền đến hải đảo, đã có người cổ sinh sống làm ăn từ lâu. Họ là chủ nhân của nền văn hóa Hạ Long nổi tiếng. Thời các vua Hùng dựng nước, theo truyền thuyết 100 trứng nở ra 100 con, trong đó 50 con theo cha là Lạc Long Quân về biển.
Vùng Phong Châu có đường sông thuận tiện xuôi xuống vùng biển Hải Phòng. Nhiều hiện vật khảo cổ đồ đá, đồng thau, nhiều mộ táng bằng quan tài gỗ cây hình thuyền đã được phát hiện ở Thủy Nguyên, với cả một công xưởng chế tác đồ trang sức Tràng Kênh gần chỗ hợp lưu sông Giá với Bạch Đằng (Sông Dầng). Mật độ đền miếu thờ nhân vật đời vua Hùng khá cao ở đây, với những huyền tích làm say đắm lòng người. Thực tế, về nhân vật là người Hải Phòng xưa trong các bộ chính sử ghi chép không nhiều, song dấu tích của họ trên đất Hải Phòng rất đậm nét.
Tiền Ngô vương dựng nên sự nghiệp ở địa bàn Hải Phòng đến nay còn lưu lại nhiều dấu tích, nhiều hơn cả ở Đường Lâm là nơi ngài sinh ra và Cổ Loa là nơi ngài đóng đô. Hai lần kiểm kê của ngành Văn hóa Hải Phòng cho kết quả có đến 30 đình, đền miếu thờ Ngô Quyền, thờ Ngô Xương Ngập và bộ tướng đời Ngô. Các cuốn tộc phả, gia phả cũng có nhiều thông tin. Sách Đồng Khánh Địa Chí Dư Lược, căn cứ vào tục chọi trâu, cho rằng dân Đồ Sơn thuộc chủng Đãn Nãi, một giống người Man phương Nam (Mã Lai) chuyên về chài lưới.
Hiện chỉ nắm chắc nguồn gốc một số họ mà chính sử có ghi. Họ Ngô có Ngô Lý Tín, quê gốc ở Khoái Châu, Sơn Nam đến định cư ở làng Gắm (Cẩm Khê – Tiên Lãng) làm quan Thái Úy, Phụ chính đại thần, giúp Lý Cao Tông, được thờ ở đền Gắm. Họ Trần ở làng Cổ Am (Vĩnh Bảo) quê gốc ở Nam Xương nay thuộc Phủ Lý – Hà LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Nam, dòng dõi vua Trần, là phó tướng của Hồ Nguyên Trừng, chỉ huy chiến dịch Hàm Tử chống Minh bị thương, được tì tướng đem về Cổ Am đổi họ dấu tên, tộc phả còn, tên tuổi lưu ở tháp cổ chùa Mét. Họ Phạm làng Lê Xá, Kiến THụy, làng Khinh Giao - An Dương là dòng dõi Phạm Sư Mạnh ở Kính Chủ, Kinh Môn.
Các thượng thư tiến sĩ Phạm Gia Mo, Phạm Đình Trọng là di duệ. Họ Phạm làng Sưa (An Lư –Thủy Nguyên) có tổ tiên gốc ở làng Sưa (Cẩm Phú, Cẩm Giàng) di cư về Thủy Nguyên, mang theo cả tên làng, tên cánh đồng cũ, cả thành hoàng Tuệ Tĩnh về quê mới. Họ Vũ làng Trung Hành gốc ở Mộ Trạch, nhận là di duệ của Cổ Trai Thử Sử Vũ Hồn thời thuộc Đường. Họ Mạc, làng Cổ Trai gốc ở Lũng Động huyện Chí Linh, đến đời ông nội Mạc Đăng Dung là Mạc Bình mới di cư về làng này.
Khi làm vua lập điện Sùng Đức ở quê cũ để thờ tổ đời thứ 7 là trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi. Một bộ phận người Hoa theo đường biển đến Hải Phòng định cư ở khu chợ dọc bờ sông Tam Bạc nay thuộc phố Phan Bội Châu và huyện An Dương.