Luận văn thạc sĩ hay thành phần loài thú và ảnh hưởng của cộng đồng dân cư đối với công tác bảo tồn các loài thú khu bảo tồn thiên nhiên bắc hướng hóa tỉnh quảng trị

Luận văn thạc sĩ phân tích thành phần loài thú và tác động của cộng đồng dân cư đến bảo tồn loài thú tại khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa.

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Chuyên ngành

Lâm Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2007

83
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THÚ Ở BẮC VIỆT NAM VÀ QUẢNG TRỊ

1.1. Sơ lược tình hình nghiên cứu thú ở Bắc Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU

2.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên

2.2. Vị trí địa lý

2.3. Địa hình

2.4. Địa chất

2.5. Đất đai

2.6. Thời tiết khí hậu

2.7. Chế độ nhiệt

2.8. Chế độ mưa ẩm

2.9. Một số hiện tượng thời tiết đặc biệt

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Bảo Tồn Động Vật Hoang Dã Tại Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Bắc Hướng Hóa

Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Bắc Hướng Hóa là một trong những điểm nóng về đa dạng sinh học tại Việt Nam. Nơi đây không chỉ là nơi sinh sống của nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn sinh thái. Động vật hoang dã tại khu vực này không chỉ có giá trị về mặt sinh học mà còn có ý nghĩa lớn trong việc duy trì cân bằng sinh thái và phát triển bền vững.

1.1. Đặc Điểm Địa Lý Của Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Bắc Hướng Hóa

Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Bắc Hướng Hóa nằm trong vùng sinh thái Trung Trường Sơn, có diện tích khoảng 25.200 ha. Địa hình nơi đây đa dạng với nhiều dãy núi và hệ sinh thái phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loài động vật hoang dã.

1.2. Vai Trò Của Động Vật Hoang Dã Trong Hệ Sinh Thái

Động vật hoang dã giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái. Chúng không chỉ là nguồn gen quý giá mà còn góp phần vào việc phát triển kinh tế địa phương thông qua du lịch sinh thái.

II. Thách Thức Trong Công Tác Bảo Tồn Động Vật Hoang Dã Tại Bắc Hướng Hóa

Mặc dù có nhiều nỗ lực trong việc bảo tồn động vật hoang dã, nhưng khu vực Bắc Hướng Hóa vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức. Tình trạng săn bắt trái phép, buôn bán động vật hoang dã và sự suy giảm môi trường sống đang đe dọa đến sự tồn tại của nhiều loài động vật quý hiếm.

2.1. Nguy Cơ Tuyệt Chủng Của Các Loài Động Vật

Nhiều loài động vật tại khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Bắc Hướng Hóa đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng do sự khai thác quá mức và mất môi trường sống. Các loài như Sao la và Vọoc Hà Tĩnh đang bị đe dọa nghiêm trọng.

2.2. Tác Động Của Con Người Đến Động Vật Hoang Dã

Hoạt động của con người như khai thác rừng, xây dựng cơ sở hạ tầng và săn bắn đã làm giảm đáng kể số lượng động vật hoang dã. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự đa dạng sinh học mà còn tác động tiêu cực đến môi trường sống của chúng.

III. Phương Pháp Bảo Tồn Động Vật Hoang Dã Tại Khu Bảo Tồn Bắc Hướng Hóa

Để bảo tồn động vật hoang dã tại khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Bắc Hướng Hóa, cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các chương trình bảo tồn cần được thiết kế để không chỉ bảo vệ động vật mà còn nâng cao nhận thức của cộng đồng địa phương.

3.1. Chương Trình Giáo Dục Và Nhận Thức Cộng Đồng

Giáo dục cộng đồng về tầm quan trọng của động vật hoang dã và bảo tồn sinh thái là rất cần thiết. Các chương trình này giúp nâng cao nhận thức và khuyến khích sự tham gia của người dân trong công tác bảo tồn.

3.2. Tăng Cường Quản Lý Và Bảo Vệ Khu Bảo Tồn

Cần có các biện pháp quản lý hiệu quả hơn để bảo vệ khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Bắc Hướng Hóa. Việc tăng cường lực lượng kiểm lâm và áp dụng các công nghệ giám sát hiện đại sẽ giúp ngăn chặn tình trạng săn bắt trái phép.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Công Tác Bảo Tồn Động Vật Hoang Dã

Công tác bảo tồn động vật hoang dã không chỉ mang lại lợi ích cho hệ sinh thái mà còn có thể tạo ra cơ hội phát triển kinh tế cho địa phương thông qua du lịch sinh thái. Việc phát triển các sản phẩm du lịch gắn liền với bảo tồn sẽ giúp nâng cao giá trị của động vật hoang dã.

4.1. Du Lịch Sinh Thái Tại Khu Bảo Tồn

Du lịch sinh thái là một trong những cách hiệu quả để bảo tồn động vật hoang dã. Các tour du lịch được thiết kế hợp lý sẽ giúp du khách hiểu rõ hơn về giá trị của động vật hoang dã và tầm quan trọng của việc bảo tồn.

4.2. Hợp Tác Giữa Các Tổ Chức Bảo Tồn Và Cộng Đồng

Hợp tác giữa các tổ chức bảo tồn và cộng đồng địa phương là rất quan trọng. Điều này không chỉ giúp bảo vệ động vật hoang dã mà còn tạo ra nguồn thu nhập bền vững cho người dân thông qua các hoạt động du lịch.

V. Kết Luận Về Bảo Tồn Động Vật Hoang Dã Tại Bắc Hướng Hóa

Bảo tồn động vật hoang dã tại khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Bắc Hướng Hóa là một nhiệm vụ cấp bách. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, tổ chức bảo tồn và cộng đồng để đảm bảo sự tồn tại của các loài động vật quý hiếm.

5.1. Tương Lai Của Công Tác Bảo Tồn

Tương lai của công tác bảo tồn động vật hoang dã tại Bắc Hướng Hóa phụ thuộc vào sự cam kết của tất cả các bên liên quan. Việc xây dựng các chính sách bảo tồn hiệu quả sẽ giúp bảo vệ động vật hoang dã và duy trì sự đa dạng sinh học.

5.2. Khuyến Khích Sự Tham Gia Của Cộng Đồng

Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong công tác bảo tồn là rất quan trọng. Các chương trình hỗ trợ và khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động bảo tồn sẽ tạo ra sự đồng thuận và nâng cao hiệu quả bảo tồn.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay thành phần loài thú và ảnh hưởng của cộng đồng dân cư đối với công tác bảo tồn các loài thú khu bảo tồn thiên nhiên bắc hướng hóa tỉnh quảng trị

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THÚ Ở BẮC VIỆT NAM VÀ QUẢNG TRỊ 1. Sơ lược tình hình nghiên cứu thú ở Bắc Việt Nam Ở nước ta, từ lâu đời thú đã được nhân dân ta sử dụng làm thực phẩm, dược liệu, xuất khẩu., chính vì vậy mà các công trình nghiên cứu về thú ở nước ta bắt đầu khá sớm. Trong khoảng thời gian từ năm 1724 – 1784, Lê Quý Đôn đã viết các cuốn sách “ Vân đài loại ngữ” và “Phủ biên tạp lục”, trong đó ông thống kê nguồn lợi động vật của một số địa phương. Tiếp theo đó là nhiều công trình khác như “Đại nam nhất thống chí” của nhà bác học triều Nguyễn (1874) thống kê các loài thú phổ biến ở nhiều tỉnh trong cả nước.

Brousmiches (1887) đã ghi nhận nhiều loài thú ăn thịt như Cáo - Vulpes vulpes, Rái cá thường - Lutra lutra, Mèo rừng - Prionailurus bengalensis, Hổ - Panthera tigris, Báo hoa mai - Panthera pardus, trong tài liệu "Nhìn chung về lịch sử tự nhiên của Bắc bộ”. Heude (1894), ghi nhận loài Sơn dương - Capricornis maritimus phân bố ở miền bắc Việt Nam. Billet (1896), các mô tả loài Hươu sao - Cervus nippon, Thỏ rừng - Lepus sinensis và tê tê - Manis pentadactyla thu được ở tỉnh Cao Bằng. Pousargues (1898), ghi nhận loài Voọc đen - Pithecus francoisi có ở vùng biên giới phía Bắc và Trung bộ.

Ménégaux (1906) mô tả thêm 2 loài thú ăn thịt mới: Chồn bạc má bắc - Melogale moschata và loài Cầy hương - Viverricula indica. Boutan (1906) trong sách "Mười năm nghiên cứu động vật" đã ghi nhận thêm 2 loài thú ăn thịt mới: Cầy móc cua - Herpestes urva, Rái cá vuốt bé - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Aonyx cinerea, các loài thú móng guốc và khỉ hầu, Hươu sao - Cervus nippon, Hươu xạ - Moschus berezovskii, Nai - Cervus unicolor, Lợn rừng - Sus scrofa, Hoẵng - Muntiacus muntjak, Khỉ vàng - Macaca mulatta, Khỉ đuôi lợn - M. nemestrina, Khỉ mốc - M. assamensis, Thỏ rừng - Lepus nigricolis cũng được ghi nhận.

Osgood (1932) đã tổng hợp nhiều tài liệu về thú do các đoàn nghiên cứu thú Đông Nam Á Kelley -Roosevelts và của Delacour, Stevens, đã ghi nhận 172 loài và phân loài thú ở Việt Nam. Đây là một công trình khoa học tạo nên bước ngoặt trong lịch sử nghiên cứu thú ở nước ta và Đông Dương. Từ năm 1962 - 1966, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà Nước đã tổ chức nghiên cứu liên hợp động vật - ký sinh trùng, côn trùng gồm nhiều cơ quan phối hợp: Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà Nước, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội , Trường Đại học Y khoa, Trường Đại học Nông Nghiệp I , Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Viện Sốt rét Ký sinh trùng và Côn trùng. Đoàn nghiên cứu do Ban Sinh vật-Địa - Ủy ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước chủ trì đã tiến hành điều tra , khảo sát tổng hợp về động vật trên 12 tỉnh ở miền Bắc Việt Nam.

Kết quả của các đợt khảo sát được Đặng Huy Huỳnh và cs tổng kết và ghi nhận 169 loài thú thuộc 32 họ và 11 bộ, trong đó, có 85 loài thú hoang dã phân bố ở vùng Đông Bắc Việt Nam[11]. Lê Hiền Hào (1973) đã giới thiệu một số đặc điểm sinh học và phân bố của những loài thú kinh tế miền Bắc Việt Nam trong cuốn “Thú kinh tế miền Bắc Việt Nam”[9]. Công trình nghiên cứu của Cao Văn Sung và cs (1980). Về những loài gặm nhấm ở Việt Nam đã ghi nhận 64 loài, thuộc 23 giống, 7 họ[24].

Đáng chú ý có 8 loài lần đầu tiên ghi nhận ở Việt Nam và 10 loài lần đầu tiên ghi nhận ở miền Bắc Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Từ đầu năm 1980 đến nay, các dự án nghiên cứu thành lập các VQG, khu BTTN mới bắt đầu triển khai mạnh. Nhiều kết quả nghiên cứu thú trong các các khu BTTN và VQG lần lượt được công bố. Dang Huy Huynh et al.,(1996), đã ghi nhận 31 loài thú thuộc 17 họ và 9 bộ ở VQG Cát Bà.

Năm 2001, trong “Báo cáo Điều tra hiện trạng đa dạng sinh học rừng đặc dụng Hữu Liên, tỉnh Lạng Sơn”, các tác giả đã ghi nhận 69 loài thú thuộc 27 họ và 8 bộ Nguyễn Xuân Đặng và cs (2006) đã ghi nhận ở VQG Tam Đảo có 77 loài thuộc 24 họ và 8 bộ. Trong thời kỳ này, các nhà nghiên cứu thú Việt Nam đã xuất bản 3 cuốn danh lục thú Việt Nam: Sokolov V., Đặng Huy Huỳnh, Cao Văn Sung, Phạm Trọng Ảnh,(1986) xuất bản cuốn "Khu hệ và sinh thái chim thú Việt Nam" bằng tiếng Nga. Đặng Huy Huỳnh, Đào Văn Tiến, Cao Văn Sung, Phạm Trọng Ảnh, Hoàng Minh Khiên (1994) đã xuất bản “Danh lục các loài thú (Mammalia) Việt Nam” [12]Trong danh lục này đã ghi nhận 223 loài thú thuộc 37 họ, 12 bộ. Lê Vũ Khôi (2000) đã xuất bản cuốn“Danh lục các loài thú ở Việt Nam”[15] ghi nhận 289 loài và phân loài thuộc 40 họ, 14 bộ.

Trịnh Việt Cường (2001) kết quả điều tra thành phần các loài thú ở VQG Pù Mát, sơ bộ thống kê được 50 loài thú thuộc 20 họ của 7 bộ, trong đó có 24 loài quí hiếm. Lê Trọng Trãi và cs (2004) [20] đã ghi nhận ở vườn quốc gia Ba Bể có 55 loài thú thuộc 25 họ bà 8 bộ; ở khu BTTN Nà Hang đã ghi nhận 83 loài thú thuộc 23 họ và 8 bộ[26]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Vùng Bắc Trung Bộ là khu vực có địa hình đa dạng hiểm trở, đặc biệt các vùng dọc biên giới Việt-Lào, đã tạo nên đa dạng các hệ sinh thái từ miền đồng bằng ven biển đến các vùng gò đồi, núi đá có nhiều hang động nổi tiếng như động Phong Nha (VQG Phong Nha Kẻ Bàng) đó là nền tảng tạo thành tính ĐDSH cao. Các hệ sinh thái ở Bắc Trung Bộ luôn giữ vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội vùng.

Những năm gần đây, nhiều nghiên cứu về thú đã được tiến hành trong vùng. Điều đặc biệt trong 2 năm (1992 và 1994), các nhà khoa học đã phát hiện được ba loài thú lớn, trong đó có hai loài thuộc vùng rừng núi Hà Tĩnh, đó là Sao La (Pseudoryx nghetinhensis) phát hiện tại Khu BTTN Vũ Quang- Hà Tĩnh năm 1992 và loài Mang lớn hay còn gọi là Mang bầm (Megamuntiacus vuquangensis) cũng được tìm thấy ở khu BTTN Vũ Quang- Hà Tĩnh, nơi mà trước đây không lâu đã phát hiện loài trĩ cuối cùng trên thế giới, loài Gà lam đuôi trắng hay còn gọi là Gà lừng (Lophura hatinhensis). Phạm Nhật, Nguyễn Xuân Đặng, 1999 trong báo cáo “Primates in Phong Nha Ke Bang area: The status overview and recomendations for further survey and monitoring” gửi cho WWF Việt Nam đã cho biết vùng Phong Nha Kẻ Bàng là trung tâm Linh trưởng quan trọng của Việt Nam. Ít nhất đã ghi nhận được 11 trên tổng số 25 loài và phân loài Linh trưởng có ở Việt Nam.

Chưa có một vùng nào có số loài và phân loài Linh trưởng cao như vậy. (2000) đã phát hiện loài thỏ vằn Nesolagus timminsi loài thú mới cho khoa học trên cơ sở một bộ xương thu thập được tại Hương Sơn, Hà Tĩnh. Phạm Nhật và các cộng sự (2001) kết quả điều tra khu hệ thú ở VQG Phong Nha-Kẻ Bàng đã xác định có mặt của 98 loài thú, thuộc 24 họ, 9 bộ , LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 trong đó đã phát hiện thêm hai loài / phân loài mới cho khu vực là Thỏ vằn (Nesolagus timinsi) và Voọc đen tuyền (Trachypithecus francosi ebenus). Tình hình nghiên cứu thú tại Quảng Trị và Bắc Hướng Hóa: Điều tra ĐDSH nói chung và thú nói riêng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị không nhiều và chỉ mới bắt đầu thực hiện gần đây, khi Quảng Trị bắt đầu hình thành các khu rừng đặc dụng.

Báo cáo điều tra đa dạng sinh học thú tại Khu BTTN Đakrông của tác giả Đặng Huy Huỳnh, Nguyễn Mạnh Hà năm 2005 ghi nhận được 67 loài thú thuộc 25 họ và 10 bộ [7]. Dự án xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị của UBND tỉnh Quảng Trị năm 2006 đã ghi nhận tại khu BTTN Bắc Hướng Hoá có 42 loài thú thuộc 17 họ và 6 bộ [27]. Kết quả điều tra của Nguyễn Xuân Đặng, Đặng Ngọc Cần, Nguyễn Xuân nghĩa từ năm 2004-2007 ghi nhận tại địa bàn tỉnh Quảng Trị có 54 loài thú lớn, thuộc 20 họ và 7 bộ, trong đó ở khu BTTN Bắc Hướng Hoá là 47 loài, ở khu BTTN Đakrông là 49 loài và ở khu BTTN đường Hồ Chí Minh huyền thoại là 25 loài [3]. Mới đây trong chuyến khảo sát điều tra về dơi và thú nhỏ của Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật - tháng 04/2007 của Nguyễn Trường Sơn và nnk, đã ghi nhận có 11 loài dơi thuộc 5 họ trong đó có một loài quý hiếm là Dơi muỗi sọ nhỏ Pipistrellus paterculus.[21] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên: 2.

Vị trí địa lý Khu BTTN Bắc Hướng Hóa nằm trong vùng sinh thái Trung Trường Sơn chuyển tiếp giữa Nam và Bắc Trường Sơn, có ranh giới phía Tây giáp với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào( chiều dài khoảng 6km), phía Bắc giáp với tỉnh Quảng Bình( chiều dài khoảng 20km), phía Nam giáp các xã Hướng Phùng, Hướng Sơn và Hướng Linh, phía Đông giáp với 3 huyện Gio Linh, Vĩnh Linh và Đakrông. Tổng diện tích tự nhiên của khu BTTN Bắc Hướng Hóa là 25.200 ha, trong đó điện tích đất có rừng là 22.537 ha (Nguồn:Kết quả rà soát 3 loại rừng năm 2006 của UBND tỉnh Quảng Trị) Ranh giới của khu BTTN bắc Hướng Hóa nằm trên địa bàn 5 xã: Hướng Lập, Hướng Việt, Hướng Sơn, Hướng Linh và Hướng Phùng thuộc huyện Hướng Hóa. Địa hình Địa hình khu vực nghiên cứu là vùng núi thấp ở phía nam của giải Trường Sơn Bắc với dãy núi cao trên 1000 m chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam dọc ranh giới hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị. Về phía Quảng Trị địa hình nâng cao hơn, chia cắt mạnh, độ dốc lớn phổ biến từ 15-25o, có nhiều nơi, nhiều chỗ dốc đứng.

Trong khu vực có các đỉnh cao điển hình như: Động Sa Mù (1550m) gần đỉnh đèo Sa Mù và Động Voi Mẹp(1771m) ở phía đông nam khu bảo tồn. Trong khu vực ngoài đồi, núi đất chiếm đa số còn lại có hai dãy núi đá vôi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Bảo Tồn Động Vật Hoang Dã Tại Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Bắc Hướng Hóa" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các biện pháp bảo tồn động vật hoang dã trong khu vực Bắc Hướng Hóa. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ các loài động vật quý hiếm và môi trường sống của chúng, đồng thời đề xuất các chiến lược cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về các loài động vật đặc trưng, các mối đe dọa mà chúng phải đối mặt, cũng như vai trò của cộng đồng trong việc bảo vệ thiên nhiên.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến bảo tồn và sinh thái, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Bảo Tồn Các Loài Cây Họ Ngọc Lan Tại Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Xuân Liên, Thanh Hóa", nơi nghiên cứu về bảo tồn thực vật trong hệ sinh thái. Ngoài ra, tài liệu "Đánh Giá Hiện Trạng và Đề Xuất Biện Pháp Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Học Hồ Tây, Hà Nội" cũng sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về các biện pháp bảo tồn đa dạng sinh học. Cuối cùng, tài liệu "Bảo Tồn Loài Xá Xị Tại Khu Bảo Tồn Xuân Liên, Thanh Hóa" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các nỗ lực bảo tồn một loài cây quý hiếm. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá sâu hơn về các vấn đề bảo tồn và sinh thái.