CHƯƠNG 1 Chương này tập trung khái quát tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu. Thông qua đó xác định các mục tiêu và đặt ra câu hỏi nghiên cứu cần phải làm rõ. Để làm sáng tỏ câu hỏi nghiên cứu, tác giả đưa ra những định hướng về đối tượng và phạm vi nghiên cứu, cũng như xác định các phương pháp nghiên cứu cụ thể để đạt được mục tiêu đặt ra. Đồng thời nêu ra bố cục và khái quát những đóng góp chính của luận văn.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2 Y 2. Vốn lưu động là những tài sản nhạy cảm nhất với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, cũng là những tài sản có rủi ro cao đòi hỏi phải có những giải pháp quản lý hiệu quả để gia tăng khả năng sinh lợi và tiên lượng các rủi ro có thể phát sinh. 44) “Working capital policy is that set of principles and plans that establishes a course of action for dealing with current assets and current liabilities”. Chính sách vốn lưu động ( working capital policies ) là việc tập hợp các nguyên tắc và các kế hoạch để thiết lập một chương trình hành động đối với tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn.
Rủi ro lợi nhuận là sự xuất hiện các tình huống dẫn đến việc suy giảm khả năng sinh lời của doanh nghiệp và trong những tình huống đặc biệt có thể làm doanh nghiệp phá sản. Theo lý thuyết đánh đổi (Risk-return tradeoff) cho rằng lợi nhuận càng cao dẫn đến rủi cao và ngược lại, lợi nhuận thấp thì rủi ro giảm. Theo Carpenter and Johnson (1983); Gardner, et al. (1986); Weinraub and Visscher (1998) cho rằng chính sách vốn lưu động mạo hiểm dẫn đến lợi nhuận càng cao và rủi ro cũng cao.
Trong khi đó, chính sách vốn lưu động thận trọng thì dẫn đến lợi nhuận thấp hơn và rủi ro cũng thấp hơn. Mục tiêu chính trong quản lý vốn lưu động là duy trì một mức cân bằng tối ưu giữa các thành phần trong vốn lưu động. Doanh nghiệp thành công phụ thuộc nhiều vào khả năng của các Giám đốc tài chính quản lý hiệu quả các khoản phải thu, hàng tồn kho và các khoản phải trả (Filbeck & Krueger, 2005, p. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Lý thuyết quản trị vốn lưu động bao gồm 03 ( ba) phương pháp cơ bản là: phương pháp quản trị thận trọng; phương pháp quản trị mạo hiểm và phương pháp quản trị trung dung ( Nwanatkwo, 2005).
Chính sách quản trị vốn lưu động mạo hiểm là việc cắt giảm tối thiểu lượng tiền mặt và hàng tồn kho của doanh nghiệp. Chính sách này được gọi là mạo hiểm vì doanh nghiệp có thể không đủ lượng hàng tồn kho để cung ứng khi nhu cầu thị trường tăng cao, do đó sẽ bị mất cơ hội gia tăng doanh thu, ngoài ra còn có thể bị mất thị phần nếu tình trạng này xảy ra thường xuyên. Bên cạnh đó, việc nắm giữ lượng tiền mặt thấp khiến doanh nghiệp có thể mất cơ hội đầu cơ nguồn nguyên liệu, hàng hóa đầu vào khi giá cả thị trường giảm xuống. Và có thể làm tăng chi phí cơ hội của đầu tư, đặc biệt khi doanh nghiệp dùng nguồn vốn bên ngoài để tài trợ cho vốn lưu động.
Tuy nhiên xét ở khía cạnh lượng tài sản lưu động thì chính sách mạo hiểm cũng có những ưu điểm như làm giảm lượng vốn tài trợ cho tài sản lưu động, vốn không bị tập trung quá nhiều vào hàng tồn kho hay lượng tiền mặt nhàn rỗi hoặc bị chiếm dụng bởi khách hàng trong các khoản phải thu … qua đó góp phần làm giảm chi phí sử dụng vốn. Ngoài ra, việc tài trợ cho tài sản lưu động hoàn toàn bằng nợ ngắn hạn cũng mang lại nhiều lợi ích như tính linh hoạt và chi phí lãi vay thấp. Ngược lại, chính sách quản trị vốn lưu động thận trọng lại thể hiện một thái cực hoàn toàn ngược lại với chính sách quản trị vốn mạo hiểm. Chính sách thận trọng phản ánh việc doanh nghiệp gia tăng đáng kể lượng tiền mặt, hàng tồn kho nắm giữ, khoản phải thu…Việc này giúp doanh nghiệp có nhiều cơ hội gia tăng doanh thu khi nhu cầu thị trường tăng và duy trì tình hình sản xuất ổn định, giảm thiểu rủi ro mất khả năng thanh toán.
Tuy nhiên, một nhược điểm lớn của chính sách này là chi phí sử dụng vốn cao vì một lượng vốn lớn nằm trong hàng tồn kho, tiền mặt nhàn rỗi cũng như chính sách bán chịu trong khoản phải thu. Việc tài trợ cho tài sản lưu động bằng nguồn vốn dài hạn sẽ làm giảm tính linh hoạt trong sử dụng vốn, cũng như chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp cao. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Trong khi đó chính sách quản trị vốn trung dung là sự hài hòa giữa hai chính sách trên, 50% vốn lưu động được tài trợ bởi nợ ngắn hạn và 50% còn lại được tài trợ bởi nợ dài hạn. Tiền mặt, hàng tồn kho cũng được xem xét và nắm giữ ở mức độ hợp lý.
Chính sách này có thể đảm bảo được tính linh hoạt, cũng như giảm rủi ro về tính thanh khoản cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn nhiều tranh luận về việc xác định mức độ tác động của chính sách vốn lưu động đến lợi nhuận và rủi ro của doanh nghiệp. Nhiều tác giả của nhiều nước khác nhau đã nghiên cứu thực nghiệm để kiểm chứng những vấn đề trên và đã đưa ra nhiều kết quả trái ngược nhau như: T. Vì vậy, để xác định và duy trì một chính sách vốn lưu động phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp là một vấn đề cần thiết và là một câu hỏi khó đối với các nhà nghiên cứu.2 Trong bài nghiên cứu “ Ảnh hưởng của chính sách quản trị vốn lưu động thận trọng hay mạo hiểm tác động tốt hơn đối với doanh nghiệp” của nhóm tác giả T.
Nair (2007), nhóm tác giả đã thực hiện khảo sát 208 doanh nghiệp niêm yết không thuộc ngành tài chính ( như ngân hàng, chứng khoán … ) ở sàn chứng khoán Karachi (KSE), Pakistan trong vòng 8 (tám) năm từ năm 1998 đến năm 2005 tạo thành 1. Mục đích chính của bài nghiên cứu là để làm sáng tỏ mối quan hệ thực nghiệm giữa chính sách quản trị vốn lưu động mạo hiểm và tỷ suất sinh lợi cũng như rủi ro của doanh nghiệp. Nhóm tác giả đã nghiên cứu ảnh hưởng của các biến TCA/TA và TCL/TA tác động lên tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp qua các biến ROA, ROE, chỉ số giá thị trường Tobin’s q và tác động lên rủi ro của doanh nghiệp thông qua các số liệu về độ lệch chuẩn của SDsales, SDROA, SDROE, SDq. bằng phương pháp phân tích bình phương bé nhất (OLS).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Đối với các mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách quản trị vốn lưu động đến tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp, nhóm tác giả đã lần lượt thực hiện hồi qui theo từng năm trong giai đoạn từ 1998 – 2005. Trong khi đó, đối với các mô hình tìm hiểu ảnh hưởng của chính sách quản trị vốn lưu động lên rủi ro doanh nghiệp, nhóm tác giả đã sử dụng các biến độc lập TCA/TA và TCL/TA bằng cách tính giá trị trung bình qua 08 (tám) năm trong giai đoạn từ 1998 – 2005 của từng doanh nghiệp. Nhìn chung, kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại một mối tương quan âm, có ý nghĩa thống kê giữa chính sách quản trị vốn lưu động với tỷ suất sinh lợi và không có mối tương quan đáng kể giữa tài sản, nợ phải trả với rủi ro các doanh nghiệp. Tóm tắt một số nội dung chính trong kết quả nghiên cứu: Ảnh hưởng của chính sách quản trị vốn lưu động lên ROA: kết quả thống kê cho thấy có mối quan hệ rất mạnh ở mức ý nghĩa 1% qua tất cả các năm, trừ năm 1998 và 2004.
Cụ thể, khi TCA/TA càng cao mức độ mạo hiểm của chính sách vốn càng giảm và ROA càng cao, khi TCL/TA càng cao, mức độ mạo hiểm chính sách vốn càng cao và ROA càng giảm. Ảnh hưởng của chính sách quản trị vốn lưu động đến ROE: mặc dù kết quả thống kê ít ấn tượng hơn so với mô hình hồi qui ROA, kết quả thống kê không đồng đều qua các năm và mức ý nghĩa cũng cao hơn ở mức 5%, 10% nhưng cũng đã thể hiện mối quan hệ nghịch chiều giữa mức độ mạo hiểm của chính sách vốn lưu động đối với ROE. Cụ thể, mức độ mạo hiểm của chính sách vốn càng cao thì ROE càng giảm. Ảnh hưởng của chính sách quản trị vốn lưu động đến giá trị thị trường Tobin’q: kết quả thống kê cho thấy chỉ số Tobin’q càng giảm khi doanh nghiệp theo đuổi chính sách vốn mạo hiểm, tuy nhiên cũng có những kết quả thống kê ngược lại trong giai đoạn 1998 – 2002.
Ảnh hưởng của chính sách quản trị vốn lưu động đến rủi ro doanh nghiệp: kết quả hồi qui cho thấy có mối tương quan nghịch giữa rủi ro và chính sách vốn mạo hiểm. Tuy nhiên, kết quả này không có ý nghĩa thống kê ngoại trừ mô hình về LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tóm lại, u mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa mức độ tài sản và nợ ngắn hạn với rủi ro hoạt động và rủi ro tài chính của các doanh nghiệp Pakistan. Trong bài nghiên cứu “ Phân tích mối quan hệ giữa chính sách vốn lưu động đến quản lý rủi ro: bằng chứng thực nghiệm từ Jordan” của Faris Nasif Alshubiri (2011).
Tác giả đã tiến hành khảo sát 59 doanh nghiệp và 14 ngân hàng niêm yết trên sàn chứng khoán Anman cho giai đoạn 5 (năm) năm từ năm 2004 đến 2008 tạo thành 365 quan sát (trong đó 295 quan sát cho doanh nghiệp và 70 quan sát cho ngân hàng). Tác giả đã sử dụng phương pháp và mô hình nghiên cứu của nhóm tác giả T. Nair (2007), đồng thời bổ sung thêm 2 (hai) biến phụ thuộc vào mô hình là tỷ suất sinh lời trên vốn đầu tư ( ROI) và tỷ suất sinh lời trên vốn (ROC), để đo lường ảnh hưởng của chính sách vốn lưu động tác động lên tỷ suất sinh lợi, trong khi đó, để đo lường ảnh hưởng của chính sách vốn lưu động đến rủi ro của doanh nghiệp tác giả cũng bổ sung thêm 2 (hai) biến phụ thuộc là độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lời trên vốn đầu tư (SDROI) và độ lệch chuẩn tỷ suất sinh lời trên vốn (SDROC) vào mô hình để nghiên cứu. Nghiên cứu đã cho thấy kết quả hồi qui các mô hình không đồng đều qua các năm, giữa doanh nghiệp và ngân hàng.