Chương 1 của khóa luận nêu ra lý do lựa chọn đề tài và trình bày tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu sự ảnh hưởng của CTV đến HQHĐ của các doanh nghiệp sản xuất HTD được niêm yết trên sàn HOSE. Tác giả trình bày mục tiêu nghiên cứu chung và xác định rõ thành ba mục tiêu nghiên cứu cụ thể để từ đó dựa vào ba mục tiêu cụ thể ấy mà đặt ra ba câu hỏi nghiên cứu nhằm đưa ra lời giải đáp rõ ràng cho các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra. Tiếp đó, tác giả trình bày đối tượng, phạm vi nghiên cứu là 31 doanh nghiệp sản xuất HTD được niêm yết trên sàn HOSE trong 13 năm từ năm 2010 – 2022. Cuối cùng là những đóng góp của đề tài với ý nghĩa về mặt thực tiễn cũng như trình bày bố cục cụ thể của khóa luận gồm 5 chương và thể hiện rõ nội dung cụ thể ở mỗi chương.
8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MỘT SỐ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Ở chương 2, tác giả sẽ trình bày khung lý thuyết cơ sở về CTV, về HQHĐ cũng như một số chỉ tiêu đo lường CTV và HQHĐ của doanh nghiệp. Ngoài ra, tác giả cũng đề cập đến các minh chứng nghiên cứu thực nghiệm của cả trong nước và nước ngoài về sự ảnh hưởng của CTV đến HQHĐ của các doanh nghiệp. Cấu trúc vốn của doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng 2. Doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng Hàng tiêu dùng hay còn gọi là thành phẩm cuối cùng của quá trình chế tạo và sản xuất sẽ được bán cho những người tiêu dùng với mục đích chính là sử dụng trong gia đình, trường học hoặc cá nhân chứ không phải sản xuất ra các sản phẩm khác và người tiêu dùng sẽ thấy chúng sẽ được lưu trữ trên các kệ hàng.
Một số ví dụ về hàng tiêu dùng chẳng hạn như thực phẩm, quần áo, trang sức, v. (Lê Ngọc Hồng, 2022) Doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng là một tổ chức kinh tế tiến hành sử dụng các nguồn lực, tư liệu sản xuất (như máy móc, thiết bị,.), lao động từ công nhân và nguyên liệu thô (chẳng hạn như đất và kim loại cơ bản) được sử dụng kết hợp với sự ứng dụng của công nghệ và khoa học để sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên thị trường. Khái niệm về cấu trúc vốn của doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng Cấu trúc vốn đã được rất nhiều các nhà nghiên cứu trước đây diễn giải ý nghĩa theo nhiều cách ở nhiều công trình nghiên cứu khác nhau của họ, chẳng hạn như: Cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa nợ vay và VCSH mà doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho các hoạt động kinh doanh. (Damodaran, 2001) Cấu trúc vốn của doanh nghiệp là sự tổ hợp giữa việc sử dụng nợ vay và VCSH theo một tỷ lệ cụ thể để tài trợ cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp.
(Stephen Ross, Randolph Westerfield and Bradford Jordan, 2003) Cấu trúc vốn là việc tài trợ cho tài sản từ nhiều nguồn khác nhau nhằm đem lại sự tăng trưởng và hiệu quả HĐKD cho doanh nghiệp. (Ong Tze San & Teh Boon Heng, 2011) 9 Cấu trúc vốn là mối liên hệ về tỷ trọng của nợ vay và VCSH trong tổng nguồn vốn của công ty. Khi cấu trúc vốn được tối ưu, giá trị công ty là lớn nhất. (Bùi Văn Thụy và Nguyễn Thị Ngọc Diệp, 2016) Cấu trúc vốn của một doanh nghiệp là mối liên hệ về tỷ lệ của nợ vay trong tổng nguồn vốn và của VCSH doanh nghiệp.
CTV của doanh nghiệp thường biến động trong các chu kỳ kinh doanh và có thể có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến lợi ích của chủ sở hữu. (Luận, 2016) Tóm lại, CTV của doanh nghiệp thể hiện nguồn gốc cũng như cách thức tạo nên nguồn vốn của một công ty nhằm tài trợ cho việc tạo nên tài sản hay nó còn thể hiện cho mối liên hệ về tỷ trọng giữa nợ vay và VCSH của các doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất HTD. Các chỉ tiêu đo lường cấu trúc vốn của doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng Để đo lường CTV của một doanh nghiệp sản xuất HTD thường sẽ dựa trên ba chỉ số là tỷ số nợ trên tổng nguồn vốn, tỷ lệ nợ trên VCSH và tỷ lệ vốn tự có với ý nghĩa và được tính theo từng công thức được trình bày như sau: Tỷ số nợ trên tổng nguồn vốn là một hệ số tài chính được áp dụng để đánh giá năng lực và quản lý nợ dựa trên tổng nguồn vốn mà doanh nghiệp sở hữu. Với hệ số nợ, nhà đầu tư có thể biết hiện tại có bao nhiêu phần trăm trong tổng tài sản được tài trợ bằng các khoản nợ.
Hệ số nợ thấp thể hiện việc sử dụng nợ không hiệu quả, còn hệ số nợ cao sẽ thể hiện gánh nặng về nợ lớn, có thể gây nên tình trạng kém khả năng thanh toán. Houston, 2011) 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑛ợ 𝑇ỷ 𝑠ố 𝑛ợ 𝑡𝑟ê𝑛 𝑡ổ𝑛𝑔 𝑛𝑔𝑢ồ𝑛 𝑣ố𝑛 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑛𝑔𝑢ồ𝑛 𝑣ố𝑛 Tỷ lệ nợ trên VCSH là một chỉ số được áp dụng để đánh giá mức độ đòn bẩy tài chính (ĐBTC) của một công ty. Nó thể hiện mức độ sử dụng nợ để tài trợ cho tài sản của công ty so với giá trị mà cổ đông đã đóng góp dưới dạng VCSH. Cụ thể, nó cho biết công ty đang sử dụng một lượng bao nhiêu để hỗ trợ cho tài sản của mình so với giá trị được thể hiện thông qua VCSH của cổ đông.
(Hussain Muhammad , Bahadar Shah & Zia ul Islam, 2014) 10 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑛ợ 𝑇ỷ 𝑠ố 𝑛ợ 𝑡𝑟ê𝑛 𝑉ố𝑛 𝐶𝑆𝐻 = 𝑉ố𝑛 𝐶𝑆𝐻 Tỷ số vốn tự có hay hệ số VCSH trên tổng nguồn vốn thể hiện tổng giá trị các tài sản mà chủ công ty sở hữu hoặc đồng sở hữu cùng các cổ đông. Người ta dựa vào hệ số này nhằm hỗ trợ cho hoạt động hạch toán vốn chủ sở hữu, hoạt động này rất quan trọng, nó giúp công ty điều chỉnh lại cơ cấu nhằm có HĐKD hiệu quả hơn. (Narinder Pal Singh & Mahima Bagga, 2019) 𝑉ố𝑛 𝐶𝑆𝐻 𝑇ỷ 𝑠ố 𝑣ố𝑛 𝑡ự 𝑐ó = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑛𝑔𝑢ồ𝑛 𝑣ố𝑛 Trong nghiên cứu này, các chỉ tiêu phổ biến để nghiên cứu CTV bao gồm tỷ số nợ trên tổng nguồn vốn và tỷ lệ nợ trên VCSH. Tuy nhiên, tác giả sẽ lựa chọn tỷ số nợ trên tổng nguồn vốn (TD) đặt làm biến đo lường cho CTV trong đề tài nghiên cứu này.
Tỷ số nợ trên tổng nguồn vốn thể hiện phần trăm tài sản của công ty được tài trợ từ nguồn vốn là nợ vay. Mức độ phụ thuộc của công ty vào chủ nợ có xu hướng tỷ lệ thuận với tỷ số này, cụ thể là nếu tỷ số này cao, đồng nghĩa với mức độ phụ thuộc của công ty vào chủ nợ cao hơn. Ngược lại, khi tỷ số này thấp, tỷ lệ nợ phải trả chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng tài sản, cho thấy công ty ít phụ thuộc vào việc vay nợ để hỗ trợ hoạt động SXKD. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 2.
Quan điểm về hiệu quả hoạt động ( Paul A. Nordhalls, 1948) từng cho rằng: “Hiệu quả sản xuất xảy ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loạt hàng hoá mà không giảm bớt sản lượng của các loại hàng hoá khác. Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó”. Ý này thực chất nhấn mạnh vào phân bổ nguồn lực của một nền kinh tế một cách hiệu quả trên giới hạn sản xuất của nó.
Khi sử dụng và phân phối nguồn lực sản xuất trên đường giới hạn khả năng sản xuất thì nền kinh tế có thể đạt được hiệu suất cao. Ngược lại, quan điểm của (Smith, 1776) lại cho rằng: “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, nhấn mạnh vào doanh thu từ việc tiêu thụ hàng hóa”. Với quan điểm này, ông đã hiểu nhầm rằng kết quả và hiệu quả là như nhau, mà thực chất hai cụm từ này là có sự khác biệt. Với ông, nếu kết quả cuối cùng giống nhau, dù sử dụng các mức chi phí khác nhau, thì chúng đều có độ 11 hiệu quả như nhau.
Qua đó có thể hiện rằng Adam Smith chủ yếu quan tâm đến kết quả đầu ra mà không chú trọng đến các nhân tố đầu vào. Có những quan điểm khác lại cho rằng HQHĐ đánh giá bởi tỷ lệ giữa kết quả đạt được và chi phí để đạt được kết quả đó, điển hình như (Manfred Kuhn, 1990) đã từng nói: “Tính hiệu quả được định lượng bằng cách chia kết quả đạt được theo đơn vị giá trị cho chi phí kinh doanh”. Quan điểm này cũng được nhắc lại rất nhiều trong nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, điển hình như trong bài nghiên cứu của (Ho Thien Thong Minh, Nguyen Hoang Tien & Nguyen Ba Hoang, 2019). Qua đó cho thấy rằng có rất nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá HQHĐ của doanh nghiệp, nhưng việc lựa chọn phương pháp nào phù hợp sẽ còn phụ thuộc vào góc độ và mục tiêu tiếp cận của từng nghiên cứu cụ thể.
Theo đó, trong phạm vi đề tài, tác giả lựa chọn đi theo quan điểm: Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là sự liên kết giữa kết quả đạt được và chi phí để đạt được kết quả đó, nếu độ chênh lệch giữa chúng càng lớn thì hiệu quả của HĐKD của doanh nghiệp càng cao. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Đề tài nghiên cứu này tiếp cận HQHĐ của doanh nghiệp từ góc độ tài chính. Theo quan điểm này, doanh nghiệp được coi là những chủ thể thực hiện các hoạt động SXKD với mục tiêu lợi nhuận và mục tiêu lớn hơn là gia tăng giá trị doanh nghiệp hay tài sản của chủ sở hữu (Ngô Kim Phượng, Lê Hoàng Vinh và các cộng sự, 2021). Do đó, HQHĐ của doanh nghiệp được định lượng thông qua hiệu quả sinh lời, một yếu tố quan trọng trong việc tạo nền tảng góp phần gia tăng giá trị tài sản của chủ sở hữu, được đánh giá bởi hai chỉ tiêu suất sinh lời đó là ROA và ROE.
Chỉ tiêu ROA cho biết công ty bỏ ra một đồng tài sản thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng lớn thì càng tốt. Chỉ tiêu này có thể được đo lường bằng lợi nhuận sau thuế (LNST) chia tổng tài sản bình quân. (Quang, 2011) 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế 𝑅𝑂𝐴 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 Trong đó, LNST thường được lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh (KQKD), còn tổng tài sản sẽ được lấy trong bảng cân đối kế toán (BCĐKT) của doanh nghiệp.