Sắc Thái Nữ Quyền Trong Nhân Vật Nữ Lệch Của Chèo Cổ

Luận văn thạc sĩ phân tích hay sắc thái nữ quyền trong nhân vật nữ lệch của chèo cổ, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực tiễn.

Người đăng

Ẩn danh
108
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử vấn đề

0.3. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu

0.4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu

0.5. Phạm vi nghiên cứu

0.6. Cấu trúc của luận văn

0.7. Đóng góp của luận văn

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHÈO, NHÂN VẬT NỮ LỆCH TRONG KỊCH BẢN CHÈO, KHÁI QUÁT VỀ VẤN ĐỀ NỮ QUYỀN

1.1. Giới thiệu chung về chèo

1.2. Chèo – nguồn gốc, tên gọi, đặc trưng

1.3. Nội dung tư tưởng của chèo truyền thống

1.4. Nhân vật nữ lệch trong kịch bản chèo cổ

1.5. Nhân vật văn học

1.6. Nhân vật trong chèo cổ

1.7. Nhân vật nữ lệch trong chèo cổ

1.8. Khái quát về vấn đề nữ quyền

1.9. Quan điểm văn hóa giới và phái tính

1.10. Khái niệm nữ quyền, sắc thái nữ quyền, quyền của người phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

1.11. Sự ảnh hưởng của Nho giáo tới nữ quyền trong văn học truyền thống

2. CHƯƠNG 2: NHÂN VẬT NỮ LỆCH TRONG CHÈO CỔ

2.1. Nhân vật Thị Mầu trong chèo Quan Âm Thị Kính

2.2. Nhân vật Xúy Vân trong vở chèo Kim Nham

2.3. Nhân vật Đào Huế, Thiệt Thê trong vở chèo Chu Mãi Thần

2.4. Nhân vật Đào Huế

2.5. Nhân vật Thiệt Thê

3. CHƯƠNG 3: BIỂU HIỆN NỮ QUYỀN QUA NHÂN VẬT NỮ LỆCH TRONG CHÈO CỔ

3.1. Vẻ đẹp ngoại hình và sự ý thức về thân phận

3.2. Vẻ đẹp ngoại hình

3.3. Ý thức về thân phận

3.4. Khao khát bản năng của người phụ nữ

3.5. Khao khát yêu và được yêu – trỗi dậy những đam mê

3.6. Khao khát hạnh phúc gần kề - giản dị mà bất khả

3.7. Nỗi đau của thân phận chồng chung – phổ biến và trớ trêu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Sắc Thái Nữ Quyền Trong Chèo Cổ

Chèo cổ là một loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc của Việt Nam, không chỉ phản ánh đời sống mà còn thể hiện những quan điểm về giới. Sắc thái nữ quyền trong chèo cổ được thể hiện qua các nhân vật nữ lệch, những hình tượng mang đậm dấu ấn văn hóa và xã hội. Nghiên cứu này sẽ làm rõ vai trò của nhân vật nữ trong việc phản ánh và đấu tranh cho quyền lợi của phụ nữ trong xã hội phong kiến.

1.1. Chèo Cổ Và Vai Trò Của Nhân Vật Nữ

Chèo cổ không chỉ là nghệ thuật giải trí mà còn là phương tiện truyền tải thông điệp về nữ quyền. Nhân vật nữ trong chèo thường mang những đặc điểm nổi bật, thể hiện sự khát khao tự do và bình đẳng.

1.2. Khái Niệm Nữ Quyền Trong Văn Hóa Việt Nam

Nữ quyền trong văn hóa Việt Nam có nguồn gốc sâu xa, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố lịch sử và xã hội. Sự phát triển của nữ quyền trong văn học, đặc biệt là chèo cổ, phản ánh những thay đổi trong nhận thức về vai trò của phụ nữ.

II. Vấn Đề Nữ Quyền Trong Chèo Cổ Thách Thức Và Cơ Hội

Mặc dù chèo cổ đã thể hiện nhiều khía cạnh của nữ quyền, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc công nhận và phát huy giá trị của nó. Những nhân vật nữ lệch thường phải đối mặt với định kiến và áp lực xã hội, điều này tạo ra những cơ hội cho việc khám phá và khẳng định bản sắc nữ quyền.

2.1. Thách Thức Trong Việc Thể Hiện Nữ Quyền

Nhiều nhân vật nữ trong chèo cổ vẫn bị giới hạn trong những khuôn mẫu truyền thống. Điều này tạo ra thách thức lớn cho việc thể hiện sắc thái nữ quyền một cách rõ ràng và mạnh mẽ.

2.2. Cơ Hội Khẳng Định Nữ Quyền Qua Nghệ Thuật

Chèo cổ có thể trở thành một công cụ mạnh mẽ để khẳng định nữ quyền. Những nhân vật nữ lệch có thể được xây dựng với những đặc điểm mạnh mẽ, thể hiện sự đấu tranh cho quyền lợi và tự do.

III. Phân Tích Nhân Vật Nữ Lệch Trong Chèo Cổ

Nhân vật nữ lệch trong chèo cổ không chỉ đơn thuần là những hình tượng mà còn là những biểu tượng của sự phản kháng và khát vọng tự do. Phân tích các nhân vật này sẽ giúp hiểu rõ hơn về sắc thái nữ quyền trong nghệ thuật chèo.

3.1. Nhân Vật Thị Mầu Trong Quan Âm Thị Kính

Thị Mầu là một trong những nhân vật tiêu biểu thể hiện sắc thái nữ quyền. Cô không chỉ là hình mẫu của sự hy sinh mà còn là biểu tượng của khát vọng tự do và hạnh phúc.

3.2. Nhân Vật Xúy Vân Trong Kim Nham

Xúy Vân là nhân vật thể hiện sự đấu tranh cho tình yêu và hạnh phúc. Câu chuyện của cô phản ánh những bất công mà phụ nữ phải chịu đựng trong xã hội phong kiến.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu Về Nữ Quyền Trong Chèo Cổ

Nghiên cứu về sắc thái nữ quyền trong chèo cổ không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc giáo dục và nâng cao nhận thức về bình đẳng giới trong xã hội hiện đại.

4.1. Giáo Dục Về Nữ Quyền Qua Nghệ Thuật

Chèo cổ có thể được sử dụng như một công cụ giáo dục để nâng cao nhận thức về nữ quyền và bình đẳng giới trong cộng đồng.

4.2. Khẳng Định Giá Trị Văn Hóa Qua Nữ Quyền

Việc nghiên cứu và phát huy giá trị của nhân vật nữ lệch trong chèo cổ sẽ góp phần khẳng định giá trị văn hóa dân gian và nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội.

V. Kết Luận Tương Lai Của Sắc Thái Nữ Quyền Trong Chèo Cổ

Sắc thái nữ quyền trong chèo cổ không chỉ là một phần của văn hóa dân gian mà còn là một phần quan trọng trong cuộc đấu tranh cho quyền lợi của phụ nữ. Tương lai của nó phụ thuộc vào việc tiếp tục nghiên cứu và phát huy giá trị của nghệ thuật này.

5.1. Tương Lai Của Nữ Quyền Trong Nghệ Thuật

Nghệ thuật chèo cổ có thể tiếp tục phát triển và khẳng định vai trò của nữ quyền trong xã hội hiện đại, tạo ra những hình mẫu mới cho phụ nữ.

5.2. Góp Phần Vào Cuộc Đấu Tranh Cho Bình Đẳng Giới

Nghiên cứu về sắc thái nữ quyền trong chèo cổ sẽ góp phần vào cuộc đấu tranh cho bình đẳng giới, khẳng định giá trị và vai trò của phụ nữ trong xã hội.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay sắc thái nữ quyền trong nhân vật nữ lệch của chèo cổ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHÈO, NHÂN VẬT NỮ LỆCH TRONG KỊCH BẢN CHÈO, KHÁI QUÁT VỀ VẤN ĐỀ NỮ QUYỀN 1. Giới thiệu chung về chèo 1. Chèo – nguồn gốc, tên gọi, đặc trưng Danh xưng chèo cổ tức là để phân biệt với chèo mới. Chèo cổ trong ý nghĩa đích thực của nó gắn liền với môi trường sinh hoạt văn hóa dân gian, từ sáng tác đến biểu diễn hầu như đều do người bình dân đảm nhiệm.

Sau này trong một giai đoạn phát triển mới, chèo mới có sự góp mặt của những ông đồ, ông khóa sinh ra từ nhân dân tham gia soạn tích. Khi đem lên sân khấu trình diễn, tích chèo lại được các nghệ sĩ dân gian sáng tạo một cách linh hoạt. Chèo cổ chưa hề biết đến phông màn bài trí, mà nó hết sức mộc mạc, dân dã, thô sơ. Trong khi đó, chèo mới gần như đoạn tuyệt với tự do ứng diễn.

Sân khấu bốn mặt xưa được thay bằng sân khấu ba mặt, rồi một mặt và có sự hỗ trợ của đạo cụ, hóa trang, âm thanh, ánh sáng. Do lưu hành trong diễn xướng dân gian nên tác phẩm chèo cổ tồn tại rất nhiều kịch bản. Còn kịch bản chèo mới được cố định ngay từ lúc ban đầu. Tác giả kịch bản chịu trách nhiệm về kịch bản văn học của mình, đạo diễn dàn dựng và diễn viên tuân thủ một cách nghiêm ngặt, ít khi có hiện tượng tùy cơ ứng biến.

Vì thế, dù có lưu diễn ở nhiều nơi thì kịch bản chèo mới cơ bản không thay đổi. Nhiều nhà nghiên cứu về chèo đã dụng công tìm hiểu nguồn gốc của chèo. Điều thu hút sự quan tâm đầu tiên là về tên gọi. Đã có nhiều giả thiết được đặt ra, đáng chú ý là quan điểm của Nguyễn Thúc Khiêm, quan điểm của Đặng Văn Lung và Nguyễn Hữu Thu.

Trên báo Nam Phong năm 1929, Nguyễn Thúc Khiêm cho rằng chèo là bởi chữ trào nói chệch ra, mà trào có nghĩa là cười. Gọi là hát chèo nghĩa là diễn các sự tích làm bật lên tiếng cười làm vui để mà xem cho thỏa thích, để dạy người ta răn chừa. Với giả thiết này, tính hài hước và tiếng cười trong chèo được nhấn mạnh, được cho là yếu tố nổi bật nhất và được ghi dấu lại trong tên gọi. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Song thực tế, nhiều câu chuyện mà chèo cổ biểu diễn đem đến cho người xem nhiều cảm xúc, trong đó cảm xúc xót xa nhiều hơn là bật cười.

Tiếng cười trong chèo chỉ là một phần, mang tính ứng diễn cao, chuyển tải thông điệp lạc quan cho người lao động. Vậy nên, quan điểm này của Nguyễn Thúc Khiêm chưa tìm được sự đồng tình từ nhiều người quan tâm đến chèo. Đặng Văn Lung và Nguyễn Hữu Thu trong bài Thêm một giả thiết về nguồn gốc của chèo [33] lại cho rằng Chèo đề chỉ một hình thức sân khấu cổ truyền, xuất phát từ chữ chèo gắn với động tác lao động chèo thuyền trên sông nước, ở vùng đất sớm phát triển nghề trồng lúa nước, sớm sản sinh ra công cụ quan trọng: con thuyền. Chữ chèo là một động từ chỉ động tác gạt nước bằng mái làm cho thuyền di chuyển.

Đó là hoạt động gắn với sinh hoạt và tín ngưỡng phong tục lâu đời của người Việt. Đồng thời, theo quan niệm cổ, thế giới của người sống và người chết ngăn cách nhau bởi một con sông. Khi tiễn người chết về thế giới bên kia, người xưa thường làm động tác chèo thuyền có kèm theo lời hát để đưa người chết qua sông. Những điệu hát đó người ta cũng gọi chung là chèo.

Đây là cơ sở để chèo có tên gọi như ngày nay. Đến nay hai quan niệm trên vẫn tồn tại song song và cả hai giả thuyết trên đều chưa có những căn cứ xác đáng để khẳng định sự đúng đắn của mình. Vì thế, tên gọi của chèo vẫn là một vấn đề mở ngỏ. Nói về nguồn gốc của chèo, cũng có nhiều nhóm ý kiến khác nhau.

Nhóm thứ nhất cho rằng, chèo là loại hình nghệ thuật có nguồn gốc ngoại lai. Cụ thể là, khẳng định chèo hình thành trên cơ sở của những điệu múa, điệu hát của người Lào. Có ý kiến lại cho rằng chèo bắt nguồn từ khúc Chiêm thành âm. Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan thì nhấn mạnh hát chèo từ hát tuồng mà ra, còn hát tuồng thì du nhập từ Trung Quốc.

Ông khẳng định khi thấy các vở tuồng dùng hoàn toàn sự tích Trung Quốc và nhiều chữ Hán thì những nho sĩ ở nông thôn sáng tác những vở mà lời hát lấy ngay một phần ở tục ngữ, ca dao, còn nội dung thì dùng toàn sự tích Việt Nam. Nhóm thứ hai thì cho rằng chèo có nguồn gốc từ tế lễ, tôn giáo. Nó có thể ra đời từ thời nhà Trần với hình thức hát đưa ma, gắn với động tác chèo thuyền giả để đưa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 người chết qua sông về thế giới bên kia. Cũng có thể chèo ra đời từ hình thức hát phục vụ cho các buổi tế lễ ở làng xã.

Nhóm thứ ba lại có quan điểm chèo có nguồn gốc từ lao động, hình thành từ quá trình lao động lâu dài của người dân nông nghiệp lúa nước. Thực tế có những quan niệm về tên gọi và nguồn gốc của chèo không đồng nhất, nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng chèo là loại hình sân khấu nảy sinh từ nền ca, vũ nhạc dân tộc và những sinh hoạt văn hóa dân gian. Gánh hát chèo thời xưa thường có khoảng mười người, diễn viên chèo là những người lao động bình thường. Đối với họ diễn chèo không phải là công việc chính.

Bằng tài năng và niềm say mê nghệ thuật, vào những ngày nông nhàn, họ lại tham gia gánh chèo, đi các làng để biểu diễn. Đặc điểm diễn xuất của chèo cổ có những điểm đáng lưu ý như sau: Thứ nhất, là tính cộng cảm: giữa người diễn và người xem có mối quan hệ chặt chẽ về mặt giao lưu tình cảm trong quá trình diễn xuất. Nghĩa là họ hiểu nhau, thông cảm với nhau, trao đổi ý kiến, đối đáp bình luận về tính cách nhân vật. Tiêu biểu cho đặc điểm này là dàn đế tranh luận trò chuyện với nhân vật.

Thứ hai, là tính thời sự mang ý nghĩa ẩn dụ. Những câu chuyện và nhân vật mang tính thời sự thường có tên cụ thể như Xúy Vân giả dại, Thị Màu ghẹo tiểu.Buổi đầu, đó là những lớp trò ngắn gọn. Sau đó, con người ở thời sau, hoặc ở địa phương thêm bớt các chi tiết, tình huống và con người rút từ các trò trình nghề vào làm cho lớp trò đầy lên và dần dần trở thành tích. Thứ ba, là sáng tạo theo chu trình mở.

Người đầu tiên làm nên một lớp trò, người sau thêm bớt, sửa đổi tạo nên những chồng lớp mới đem lại cho các vở chèo tính hoàn chỉnh. Nhưng ở những kịch bản chèo cổ dù được chỉnh lý hoặc cải biên thì không thể bỏ qua được những trích đoạn như: Thị Mầu ghẹo tiểu (trong Quan Âm Thị Kính), Xúy Vân giả dại (trong Kim Nham), Đào Huế đánh ghen (trong Chu Mãi Thần). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Thứ tư, là không thể xếp từng vở vào một thể tài (bi, hài, chính kịch) được. Bởi vở nào cũng đủ bảy mùi tình cảm: vui, giận, yêu, ghét, buồn, lo, sợ (hỉ, nộ, ái, ố, ưu, tư, khủng).

Hình thức tổ chức biểu diễn của chèo có những đặc điểm nổi bật: địa điểm biểu diễn không cố định. Chỉ cần đó là nơi thuận lợi cho người xem là có thể dựng một sân khấu chèo. Sân khấu chèo không cầu kỳ trong cách bài trí. Trung tâm là chiếc chiếu, ở giữa có một chiếc hòm làm đạo cụ, hai bên là chỗ ngồi của các nhạc công và những diễn viên chờ ra vai, xung quanh là khán giả.

Khán giả và diễn viên chèo rất gần gũi và thân thuộc. Trong vở diễn khán giả có thể tham gia trực tiếp bằng hình thức tiếng đế. Chèo là loại hình nghệ thuật gắn liền với đời sống và sinh hoạt của người lao động. Vì thế, chèo có sự kết tinh những tinh hoa văn hóa của nhiều loại hình văn nghệ dân gian.

Chèo vốn mang tính tổng hợp một cách tự nhiên. Với sân khấu chèo có sự kết hợp của văn học, âm nhạc, hội họa, múa.Trước hết để có được một vở chèo hoàn chỉnh phải có kịch bản chèo. Hầu như các kịch bản chèo cổ đều lấy từ tích truyện từ truyện Nôm hoặc những câu chuyện dân gian. Từ cốt truyện ấy những ông đồ, ông khóa đã hình thành nên phần lời thơ cơ bản cho vở chèo.

Trong đó, những câu ca dao, dân ca quen thuộc với người dân được vận dụng sáng tạo. Khi đưa lên sân khấu, phần lời thơ được trình bày một cách biến hóa. Tùy nội dung và mục đích của từng đoạn trò, diễn viên có thể dùng cách nói lối hay điệu hát. Thêm vào lời hát có sự hỗ trợ của âm nhạc tạo nên làn điệu đặc trưng của chèo.

Kèm theo nhạc người biểu diễn chèo còn thực hiện những động tác múa uyển chuyển, và có cả sự hỗ trợ của đạo cụ như chiếc quạt. Kịch bản chèo thường sử dụng những tích truyện trong dân gian để làm cốt truyện. Trong tích truyện này có nhiều tình tiết có cả sự thay đổi về không gian. Trong khi đó chèo lại thường được biểu diễn ở sân đình, cửa chùa với sân khấu hẹp và đơn giản, đạo cụ không nhiều.

Để giúp người xem được hiểu đầy đủ nội dung câu chuyện, chèo sử dụng nghệ thuật ước lệ. Tính ước lệ thể hiện rõ trong bối cảnh, đạo cụ, động tác của diễn viên, nhất là ở yếu tố không gian và thời gian. Vẫn một LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 chiếu chèo mà tùy theo từng vở diễn, từng cảnh diễn có thể trở thành không gian sân đình, không gian cửa chùa, trong dinh quan.Một chiếc hòm đựng đồ của gánh chèo được đặt giữa sân khấu có thể trở thành chiếc bàn, chiếc giường, chiếc ghế nghỉ chân. Một chiếc quạt trong tay người diễn viên có thể xòe ra thành quyển sách, chiếc gương soi, khép lại thành cái bút, ngon roi.Trong tích truyện thời gian có thể dịch chuyển, thậm chí câu chuyện về cuộc đời nhân vật có thể kéo dài đến mười mấy năm chỉ thông qua một câu nói của nhân vật.

Một động tác múa cùng lời hát thích hợp là người xem có thể hiểu nhân vật đang chèo thuyền, cưỡi ngựa, khâu vá.dù không hề có một phông cảnh hay đạo cụ nào thực sự liên quan đến những hành động ấy.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Sắc Thái Nữ Quyền Trong Nhân Vật Nữ Lệch Của Chèo Cổ" khám phá những khía cạnh đa dạng của nữ quyền trong nghệ thuật chèo cổ, đặc biệt là qua hình ảnh các nhân vật nữ lệch. Tác giả phân tích cách mà những nhân vật này không chỉ phản ánh mà còn thách thức các chuẩn mực xã hội về giới tính, từ đó mở ra một cái nhìn mới về vai trò của phụ nữ trong văn hóa truyền thống. Độc giả sẽ nhận thấy được sự phong phú trong cách thể hiện và ý nghĩa sâu sắc của các nhân vật nữ, từ đó nâng cao nhận thức về bình đẳng giới trong nghệ thuật.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu "Luận án tiến sĩ ngữ văn vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn xuôi việt nam đương đại qua sáng tác của một số nhà văn nữ tiêu biểu", nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về nữ quyền trong văn học hiện đại. Ngoài ra, tài liệu "Diễn ngôn về giới trong thơ nữ việt nam đương đại khảo sát qua một số trường hợp tiêu biểu" cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách mà nữ quyền được thể hiện trong thơ ca. Cuối cùng, tài liệu "Luận văn văn hóa dân gian người quan họ văn hóa ứng xử dân ca quan họ" sẽ mang đến cái nhìn về văn hóa dân gian và cách mà nó phản ánh các vấn đề giới tính trong xã hội. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá sâu hơn về chủ đề nữ quyền trong văn hóa và nghệ thuật.