Tổng quan nghiên cứu

Khu Bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu (Khu BTTN BC-PB), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, là khu rừng tự nhiên ven biển duy nhất còn lại ở vùng phía Nam Việt Nam tính từ bán đảo Sơn Trà trở vào. Được thành lập năm 1978, khu bảo tồn này sở hữu hệ sinh thái nhiệt đới đặc trưng với tổng diện tích hiện còn 10.543 ha tính đến năm 2010, giảm 849 ha so với con số 11.392 ha được ghi nhận vào năm 2000.

Trước khi nghiên cứu này được thực hiện, danh lục thực vật tại đây chỉ dừng lại ở mức 732 loài thuộc 122 họ theo khảo sát năm 2000 của Phân viện Điều tra Quy hoạch Rừng II. Những số liệu đó chưa đánh giá đầy đủ tính đa dạng thực vật bậc cao có mạch, chưa xác định dạng sống và công dụng của từng loài, cũng như chưa nhận diện được các loài nguy cấp, quý, hiếm theo tiêu chuẩn hiện hành.

Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn Quyết (2012), thuộc chuyên ngành Quản lý Bảo vệ Tài nguyên Rừng, được thực hiện tại Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam dưới sự hướng dẫn của TS. Hoàng Văn Sâm, đặt mục tiêu đánh giá toàn diện tính đa dạng thực vật bậc cao có mạch tại Khu BTTN BC-PB. Nghiên cứu bao quát phạm vi toàn bộ khu bảo tồn, trải dài trên địa phận các xã Bình Châu, Bưng Riềng, Bông Trang và Phước Thuận thuộc huyện Xuyên Mộc. Kết quả thu được không chỉ cập nhật danh lục thực vật mà còn cung cấp luận cứ khoa học quan trọng cho công tác xây dựng chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học tại một trong những khu rừng nhiệt đới ven biển có giá trị bậc nhất Đông Nam Bộ.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng hai hệ thống lý thuyết lớn trong sinh thái học và phân loại thực vật học.

Lý thuyết phân loại thảm thực vật UNESCO (1973) được áp dụng làm khung phân loại chính, dựa trên nguyên tắc ngoại mạo – cấu trúc. Hệ thống này phân chia thảm thực vật thành 5 lớp quần hệ gồm: rừng kín, rừng thưa, cây bụi, cây bụi lùn và trảng cỏ, với 5 cấp đơn vị phân loại từ lớp quần hệ xuống đến quần hệ phụ. Khu BTTN BC-PB được xác định thuộc kiểu "Rừng kín nửa rụng lá, ẩm nhiệt đới" theo hệ thống phân loại sinh thái phát sinh của Thái Văn Trừng (1978, 2001).

Lý thuyết về hệ thực vật cụ thể của Tolmachop và trường phái Nga được vận dụng để xác định diện tích biểu hiện tối thiểu. Theo đó, số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường dao động trong khoảng 1.500–2.000 loài, và việc kiểm kê cần được thực hiện trên diện tích đủ lớn để bao quát toàn bộ sự phong phú của sinh cảnh.

Các khái niệm chuyên ngành cốt lõi bao gồm: đa dạng sinh học (ĐDSH) theo tiêu chí taxon và dạng sống; chỉ số đa dạng Shannon-Weiner (H') đo lường sự phân bố đều của các loài trong quần xã; chỉ số Margalef (d) đánh giá độ phong phú loài theo tổng số cá thể; chỉ số Pielou (J') thể hiện tính đồng đều của quần xã; và độ quan trọng của loài (I%) dùng để xác định loài ưu thế trong từng ô tiêu chuẩn.

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế điều tra thực địa: Nghiên cứu triển khai tại 6 khu vực đại diện trong toàn bộ Khu BTTN BC-PB, với hệ thống gồm 16 tuyến điều tra có tổng chiều dài 29.619 m và 11 ô tiêu chuẩn (ÔTC). Tuyến điều tra được xác định bằng GPS dựa trên bản đồ thảm thực vật sơ thảo, đảm bảo cắt ngang qua đại diện đầy đủ các trạng thái rừng từ IA, IC, IIA, IIB đến IIIA1, IIIA2. Mỗi ÔTC có diện tích 1.000 m² cho rừng tự nhiên và 500 m² cho rừng trồng, được lập tại các vị trí đặc trưng nhất của từng kiểu ưu hợp thực vật.

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tổng cộng 743 loài được kiểm kê trên toàn bộ phạm vi khu bảo tồn. Mỗi loài cây thu từ 3–5 mẫu tiêu bản. Mẫu được xử lý tại Trung tâm Đa dạng Sinh học, Trường Đại học Lâm nghiệp. Phương pháp PRA (Participatory Rural Appraisal – đánh giá nông thôn có sự tham gia) được sử dụng song song, với các cuộc phỏng vấn tại 3 xã trọng điểm, mỗi xã gồm 3 ấp trưởng, 3 hộ dân và 1 cán bộ kiểm lâm địa bàn.

Phương pháp phân tích: Dạng sống được phân tích theo thang Raunkier (1934) có chỉnh sửa bởi Nguyễn Nghĩa Thìn (1997). Chỉ số đa dạng sinh học (H', J', D') được tính bằng phần mềm thống kê PRIMER-VI của Clarke & Warwick (1994). Mức độ nguy cấp được đối chiếu với Sách đỏ Việt Nam (2007), Danh mục kèm theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP và Danh lục đỏ IUCN (2009). Tên khoa học được chuẩn hóa theo hệ thống Takhtajan (2009) và bộ Danh lục các loài thực vật Việt Nam (tập I–III).


Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phát hiện 1 – Tổng thành phần loài vượt mức ghi nhận trước đây: Nghiên cứu xác định được 743 loài, 423 chi, 122 họ, thuộc 3 ngành thực vật bậc cao có mạch. Con số này vượt 10 loài, 6 chi so với điều tra năm 2000. Khu BTTN BC-PB chiếm tới 2,05% tổng số loài thực vật có mạch của toàn Việt Nam (10.519 loài theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997). Đây là tỷ lệ đáng chú ý, xét trên diện tích chỉ hơn 10.000 ha của khu bảo tồn.

Phát hiện 2 – Ngành Ngọc lan chiếm ưu thế áp đảo: Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) đóng góp 725 loài, chiếm 97,58% số loài; 410 chi, chiếm 96,93%; và 113 họ, chiếm 92,62% toàn hệ. Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) đứng thứ hai với 15 loài (2,02%), trong khi ngành Thông (Pinophyta) nghèo nhất với 3 loài (0,40%). Cấu trúc này phản ánh đặc trưng điển hình của hệ thực vật nhiệt đới ẩm. Nếu trình bày qua biểu đồ tròn, tỷ lệ 97,58% của ngành Ngọc lan sẽ thể hiện rõ sự vượt trội so với hai ngành còn lại.

Phát hiện 3 – Đa dạng về dạng sống với ưu thế nhóm cây chồi trên: Phổ dạng sống của hệ thực vật ghi nhận sự chiếm ưu thế của nhóm cây chồi trên (Phanerophytes – Ph), bao gồm cây gỗ lớn cao trên 25 m, cây gỗ nhỡ 8–25 m, cây gỗ nhỏ 2–8 m, dây leo gỗ và cây bì sinh. Sự đa dạng về dạng sống phản ánh môi trường rừng nhiệt đới ẩm đặc trưng, nơi cạnh tranh ánh sáng tạo ra phân tầng rừng nhiều lớp rõ rệt. Bảng thống kê phổ dạng sống (Bảng 4.7 trong nguyên bản) cho thấy sự phân bố không đồng đều giữa các nhóm, với cây chồi trên chiếm tỷ lệ cao nhất.

Phát hiện 4 – Áp lực vi phạm gia tăng nghiêm trọng: Số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng tại Khu BTTN BC-PB có xu hướng tăng mạnh: năm 2008 ghi nhận 173 vụ, năm 2009 tăng lên 252 vụ, năm 2010 giảm xuống 122 vụ nhưng đến năm 2011 lại tăng vọt lên 287 vụ. Tổng diện tích rừng giảm 849 ha trong vòng 10 năm (2000–2010), tương đương mức suy giảm khoảng 7,5% diện tích.

Thảo luận kết quả

Sự ưu thế của ngành Ngọc lan với tỷ lệ 97,58% phù hợp hoàn toàn với đặc điểm của hệ thực vật rừng nhiệt đới ẩm, tương đồng với kết quả nghiên cứu tại các khu bảo tồn khác trong vùng Đông Nam Bộ và hệ thực vật Việt Nam nói chung (93,28% theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997). Điểm đáng chú ý là dù ngành Ngọc lan của Khu BTTN BC-PB chiếm tỷ lệ cao hơn mức trung bình cả nước, riêng ngành Dương xỉ lại thấp hơn đáng kể (2,02% so với 6,12%). Điều này có thể giải thích bởi điều kiện khí hậu khô hạn theo mùa tại khu vực ven biển Bà Rịa – Vũng Tàu, với lượng mưa bình quân 1.396 mm/năm và 2–3 tháng hạn, không thuận lợi cho nhóm dương xỉ ưa ẩm.

Xu hướng gia tăng số vụ vi phạm – đỉnh điểm là 287 vụ năm 2011 – phản ánh tình trạng sức ép dân số từ hơn 50% dân số huyện Xuyên Mộc sinh sống vùng ven khu bảo tồn. Với 53% lao động địa phương làm nông nghiệp và ngư nghiệp theo mùa vụ, thu nhập không ổn định thúc đẩy người dân xâm phạm tài nguyên rừng. Thực trạng này tương tự như các kết quả ghi nhận từ nhiều khu bảo tồn thiên nhiên khác ở Đông Nam Á, nơi áp lực sinh kế cộng đồng là nguyên nhân gián tiếp hàng đầu gây suy thoái đa dạng sinh học.


Đề xuất và khuyến nghị

1. Củng cố hệ thống tuần tra và xử lý vi phạm (Giải pháp tổ chức và pháp luật) Ban Quản lý Khu BTTN BC-PB cần thiết lập hệ thống tuần tra định kỳ với tần suất tối thiểu 2 lần/tuần tại các tiểu khu trọng điểm, đặc biệt là các khu vực giáp ranh các xã Bình Châu, Bưng Riềng và Bông Trang – nơi ghi nhận mật độ vi phạm cao nhất. Phối hợp với UBND 4 xã liên quan để xử lý triệt để các vụ khai thác lâm sản trái phép trong vòng không quá 30 ngày kể từ ngày phát hiện. Mục tiêu cụ thể là giảm số vụ vi phạm xuống dưới 100 vụ/năm trong vòng 3 năm đầu triển khai.

2. Phục hồi rừng tại các khu vực suy thoái (Giải pháp lâm sinh) Khẩn trương triển khai khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng bổ sung trên diện tích 2.045,4 ha đất trạng thái IC hiện có. Ưu tiên trồng bổ sung các loài cây họ Dầu bản địa như Dầu (Dipterocarpus), Sao (Hopea), Sến (Shorea), Vên Vên (Anishoptera) – những loài đã từng chiếm ưu thế trên 40% tổ thành trước năm 1975. Mục tiêu đặt ra là đến năm 2020, độ che phủ rừng của khu bảo tồn đạt trên 80%, tăng từ mức 73,69% hiện tại.

3. Phát triển kinh tế cộng đồng vùng đệm (Giải pháp sinh kế) UBND huyện Xuyên Mộc phối hợp với các sở ban ngành liên quan triển khai các chương trình hỗ trợ vốn vay ưu đãi, đào tạo nghề phi nông nghiệp cho cộng đồng 5 xã vùng đệm. Phát triển các mô hình du lịch sinh thái có sự tham gia của cộng đồng địa phương, tận dụng lợi thế Khu BTTN BC-PB nằm trong bán kính 100 km từ TP. HCM, Biên Hòa và Vũng Tàu. Khi thu nhập từ nghề rừng hợp pháp và du lịch sinh thái đủ bù đắp nhu cầu cơ bản, áp lực xâm phạm rừng sẽ giảm đáng kể.

4. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và giám sát đa dạng sinh học Xúc tiến hợp tác với Trung tâm Đa dạng Sinh học – Trường Đại học Lâm nghiệp và Viện Sinh thái Tài nguyên Sinh vật để thực hiện các điều tra định kỳ 5 năm/lần, cập nhật danh lục thực vật theo tiêu chuẩn quốc tế. Ứng dụng hệ thống GIS và viễn thám để theo dõi biến động diện tích rừng theo thời gian thực, thay thế phương pháp điều tra thủ công đang bộc lộ nhiều hạn chế về nhân lực và kinh phí.

5. Tuyên truyền nâng cao nhận thức bảo tồn Xây dựng chương trình giáo dục môi trường lồng ghép vào hệ thống trường học tại 4 xã vùng đệm, với mục tiêu đến năm 2015, ít nhất 80% học sinh các cấp hiểu biết về vai trò của Khu BTTN BC-PB. Tổ chức các buổi sinh hoạt cộng đồng tại ấp trưởng, phổ biến Nghị định 32/2006/NĐ-CP và các quy định pháp luật liên quan đến bảo vệ thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.


Đối tượng nên tham khảo luận văn

1. Nhà nghiên cứu và giảng viên đại học chuyên ngành lâm nghiệp, sinh thái học: Luận văn cung cấp bộ dữ liệu hoàn chỉnh gồm 743 loài, 423 chi, 122 họ thực vật bậc cao có mạch – một trong những danh lục chi tiết nhất về hệ thực vật rừng nhiệt đới ven biển Đông Nam Bộ tính đến thời điểm 2012. Các nhà nghiên cứu có thể sử dụng dữ liệu này làm nền tảng so sánh cho các nghiên cứu biến động đa dạng sinh học theo thời gian, hoặc làm tài liệu tham chiếu khi xây dựng các nghiên cứu về hệ thực vật tại các khu bảo tồn tương đồng về điều kiện tự nhiên.

2. Cán bộ quản lý Khu BTTN BC-PB và cơ quan kiểm lâm tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: Các giải pháp bảo tồn được đề xuất trong luận văn có giá trị ứng dụng trực tiếp trong công tác lập kế hoạch quản lý rừng. Đặc biệt, phân tích nguyên nhân gây suy giảm bằng phương pháp 5 WHYs và dữ liệu thống kê vi phạm 2008–2011 cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng kế hoạch tuần tra và phân bổ nguồn lực bảo vệ rừng hiệu quả hơn.

3. Sinh viên và học viên cao học ngành Quản lý Bảo vệ Tài nguyên Rừng: Luận văn là tài liệu học thuật mẫu mực về quy trình thực hiện nghiên cứu đa dạng thực vật từ A–Z: từ thiết kế tuyến điều tra bằng GPS, lập ÔTC, thu mẫu tiêu bản theo tiêu chuẩn quốc tế, đến tính toán các chỉ số đa dạng bằng phần mềm PRIMER-VI và chuẩn hóa danh lục theo hệ thống Takhtajan (2009). Đây là nguồn tham khảo phương pháp luận thiết thực cho các đề tài nghiên cứu tương tự.

4. Các tổ chức bảo tồn và cơ quan hoạch định chính sách môi trường: Tổ chức như IUCN, VCF (Quỹ Bảo tồn Việt Nam) và Bộ Nông nghiệp và PTNT có thể sử dụng danh sách các loài nguy cấp được đối chiếu với Sách đỏ Việt Nam (2007) và Nghị định 32/2006/NĐ-CP làm luận cứ để ưu tiên đầu tư bảo tồn. Số liệu về suy giảm diện tích rừng (849 ha trong 10 năm) hỗ trợ trực tiếp cho việc đánh giá hiệu quả quản lý các khu bảo tồn và điều chỉnh chính sách phù hợp.


Câu hỏi thường gặp

1. Khu BTTN Bình Châu – Phước Bửu có những đặc điểm gì nổi bật so với các khu bảo tồn khác ở miền Nam?

Đây là khu rừng tự nhiên ven biển duy nhất còn lại từ bán đảo Sơn Trà trở vào phía Nam, với đặc điểm nổi bật là sự kết hợp của nhiều sinh cảnh trong một diện tích hơn 10.000 ha: từ rừng kín nhiệt đới, rừng tràm ngập nước, hồ nước ngọt đến cồn cát ven biển dài 12 km. Đặc biệt, suối nước khoáng Bình Châu với nhiệt độ 60–80°C tạo nên giá trị sinh thái độc đáo hiếm thấy ở Đông Nam Á.

2. Tại sao việc bổ sung 10 loài mới vào danh lục lại có ý nghĩa khoa học quan trọng?

Mỗi loài thực vật mới được ghi nhận đại diện cho một mắt xích tiến hóa và sinh thái không thể thay thế. Việc bổ sung 10 loài vào danh lục không chỉ nâng tổng số lên 743 loài mà còn hoàn chỉnh bức tranh về tổ thành và cấu trúc của hệ thực vật. Các loài mới phát hiện có thể là loài đặc hữu, loài có giá trị dược liệu hoặc loài chỉ thị sinh thái – những đối tượng cần ưu tiên bảo tồn theo Sách đỏ Việt Nam (2007).

3. Phương pháp PRA được sử dụng như thế nào trong nghiên cứu nguyên nhân suy giảm đa dạng thực vật?

PRA được triển khai thông qua phỏng vấn có cấu trúc tại 3 xã vùng đệm (Bình Châu, Bưng Riềng, Bông Trang), mỗi xã gồm 3 ấp trưởng, 3 hộ dân và 1 kiểm lâm địa bàn. Nội dung phỏng vấn tập trung vào tình hình sinh kế, hiểu biết về pháp luật bảo vệ rừng và nhận thức về đa dạng sinh học. Kết quả được phân tích bằng phương pháp 5 WHYs để truy nguyên chuỗi nguyên nhân từ bề mặt (khai thác gỗ) đến cốt lõi (thiếu sinh kế bền vững).

4. Tại sao diện tích Khu BTTN BC-PB lại giảm 849 ha từ năm 2000 đến 2010?

Sự sụt giảm 849 ha diện tích rừng trong 10 năm xuất phát từ tổ hợp nhiều yếu tố. Nguyên nhân trực tiếp gồm khai thác lâm sản trái phép, phá rừng làm rẫy và lấn chiếm đất rừng. Nguyên nhân gián tiếp sâu xa hơn là áp lực dân số – hơn 50% trong tổng số khoảng 126.000 dân huyện Xuyên Mộc sống ven khu bảo tồn – kết hợp với thu nhập thấp của nhóm lao động nông nghiệp, ngư nghiệp theo mùa vụ và sự phối hợp chưa chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý.

5. Các chỉ số đa dạng sinh học H', J', D' cho biết điều gì về sức khỏe của hệ sinh thái rừng?

Chỉ số Shannon-Weiner (H') đo lường mức độ phong phú và đồng đều của các loài trong quần xã: H' càng cao, hệ sinh thái càng khỏe mạnh và ổn định. Chỉ số Pielou (J') thể hiện tính đồng đều về phân bố cá thể giữa các loài; J' gần bằng 1 cho thấy không có loài nào chiếm ưu thế vượt trội. Chỉ số Simpson (D') phản ánh xác suất hai cá thể bất kỳ thuộc cùng một loài; D' thấp nghĩa là quần xã đa dạng hơn. Ba chỉ số này được tính bằng phần mềm PRIMER-VI và là công cụ tiêu chuẩn quốc tế để so sánh và giám sát biến động đa dạng sinh học qua thời gian.


Kết luận

  • Đóng góp về danh lục thực vật: Luận văn bổ sung và chuẩn hóa hoàn chỉnh danh lục 743 loài, 423 chi, 122 họ thuộc 3 ngành thực vật bậc cao có mạch tại Khu BTTN BC-PB theo hệ thống Takhtajan (2009) – danh lục đầy đủ và có hệ thống nhất từ trước đến thời điểm nghiên cứu.
  • Đóng góp về phân tích đa dạng: Lần đầu tiên xác định và phân tích đồng bộ dạng sống, công dụng và mức độ nguy cấp của các loài tại khu bảo tồn, đánh giá chỉ số đa dạng H', J', D' trong các kiểu quần xã thực vật khác nhau.
  • Đóng góp về cảnh báo suy thoái: Ghi nhận và phân tích toàn diện 287 vụ vi phạm năm 2011 cùng mức suy giảm 849 ha diện tích rừng trong thập kỷ 2000–2010, tạo cơ sở cho hoạch định chính sách bảo tồn cấp tỉnh.
  • Đóng góp về giải pháp: Đề xuất hệ thống giải pháp tích hợp gồm 7 nhóm biện pháp từ tổ chức, bảo vệ, phục hồi rừng đến phát triển kinh tế cộng đồng và thực thi pháp luật.
  • Bước tiếp theo: Các nghiên cứu tương lai cần tập trung cập nhật danh lục định kỳ 5 năm/lần, ứng dụng GIS theo dõi biến động thảm thực vật và đánh giá hiệu quả các giải pháp bảo tồn đã đề xuất. Các nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách và tổ chức bảo tồn được khuyến nghị tham khảo và áp dụng kết quả nghiên cứu này trong xây dựng kế hoạch hành động bảo vệ đa dạng sinh học tại Khu BTTN Bình Châu – Phước Bửu nói riêng và hệ thống rừng đặc dụng ven biển Việt Nam nói chung.