Tổng quan nghiên cứu

Khu vực núi Minh Đạm thuộc huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện lưu giữ diện tích rừng kín thường xanh hơi ẩm nhiệt đới khoảng 617,15 ha, tương đương tỷ lệ che phủ 2,32% diện tích đất tự nhiên toàn vùng. Sau các đợt khai thác với cường độ cao trong giai đoạn thập niên 1980 - 1990, thảm thực vật nguyên sinh bị suy giảm cấu trúc nghiêm trọng và hiện tồn tại chủ yếu dưới hai trạng thái phục hồi thứ sinh là IIA (rừng phục hồi nghèo kiệt) và IIB (rừng phục hồi trung bình) theo thang phân loại Loeschau (1966). Thực trạng thiếu hụt các dẫn liệu định lượng về đặc trưng lâm sinh đã gây cản trở đáng kể cho công tác quy hoạch nuôi dưỡng và làm giàu rừng phòng hộ ven biển.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định toàn diện các đặc điểm lâm học của hai trạng thái rừng IIA và IIB, cung cấp luận cứ khoa học thực chứng phục vụ quản lý rừng bền vững và thiết lập các giải pháp kỹ thuật lâm sinh tối ưu. Không gian khảo sát tập trung tại các tiểu khu 6 và 13 thuộc Ban Quản lý Rừng phòng hộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong khung thời gian từ tháng 7/2018 đến tháng 11/2018.

Ý nghĩa của công trình thể hiện rõ nét qua việc lượng hóa thành công các chỉ số sinh thái quan trọng: mật độ quần thụ dao động từ 802 đến 895 cây/ha, trữ lượng biến thiên từ 42,8 đến 94,2 m3/ha, cùng mật độ cây tái sinh tự nhiên đạt 3.208 đến 3.667 cây/ha. Những phát hiện này thiết lập cơ sở dữ liệu nền tảng cho việc theo dõi diễn thế sinh thái và điều chế rừng phòng hộ ven biển miền Đông Nam Bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hệ thống lý thuyết phân loại trạng thái rừng nhiệt đới của Loeschau (1966) nhằm nhận diện chính xác các giai đoạn diễn thế phục hồi sau khai thác kiệt. Kết hợp với đó là khung lý thuyết phân tích cấu trúc quần xã thực vật của Thái Văn Trừng (1999) và mô hình định lượng giá trị quan trọng của Curtis - McIntosh (1951).

Bốn khái niệm học thuật cốt lõi được triển khai bao gồm:

  • Chỉ số giá trị quan trọng (IVI%): Thước đo vai trò sinh thái của loài cây gỗ, được tính bằng trung bình cộng của mật độ tương đối (N%), tiết diện ngang tương đối (G%) và thể tích tương đối (V%).
  • Chỉ số phức tạp cấu trúc quần thụ (SCI) theo phương pháp Holdridge (1967): Đánh giá mức độ phân tầng và tính đa dạng không gian qua tích số giữa số loài, mật độ, chiều cao vút ngọn và tổng tiết diện ngang thân cây.
  • Chỉ số cạnh tranh tán (CCI) theo Nguyễn Văn Trương (1983): Đánh giá mức độ giao tán và chiếm lĩnh không gian dinh dưỡng của tầng cây cao.
  • Chỉ số đa dạng sinh thái theo Magurran (2004): Bao gồm độ giàu có loài Margalef, độ đa dạng loài Shannon-Wiener (H') và độ đồng đều Pielou (J').

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp lập ô tiêu chuẩn điển hình. Tổng dung lượng mẫu gồm 6 ô tiêu chuẩn với diện tích 0,20 ha mỗi ô (kích thước 2.000 m2), tổng diện tích điều tra đạt 1,2 ha, bố trí trên các tuyến song song cách nhau 200 - 300 m. Để đánh giá diễn thế tầng dưới, nghiên cứu thiết lập 30 ô dạng bản diện tích 16 m2 (kích thước 4x4 m) tại 4 góc và vị trí trung tâm của các ô tiêu chuẩn.

Tiêu chí đo đếm quy ước rõ ràng: tầng cây gỗ lớn có đường kính ngang ngực D1.3 ≥ 6,0 cm được đo chu vi bằng thước dây (độ chính xác 0,1 cm) và chiều cao vút ngọn H bằng thước Blume - Leise (độ chính xác 0,5 m); tầng tái sinh tự nhiên từ chiều cao H = 10 cm đến D1.3 < 6,0 cm được đo bằng sào chuyên dụng (độ chính xác 0,1 m).

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích mô hình toán học là nhằm khắc phục nhược điểm định tính của phương pháp trắc đồ rừng truyền thống. Tác giả áp dụng hàm phân bố mũ Meyer và hàm phân bố Beta để mô hình hóa quy luật phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D) dựa trên tiêu chuẩn sai lệch bình phương cực tiểu (SSRmin), đồng thời dùng hàm khoảng cách để nắn đường cong phân bố chiều cao (N/H). Toàn bộ dữ liệu được xử lý chuyên sâu qua phần mềm thống kê Statgraphics Plus Version 4.0, phần mềm sinh thái Primer 5.0 và Microsoft Excel trong suốt giai đoạn nghiên cứu thực địa năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu ghi nhận tổng cộng 52 loài cây gỗ thuộc 43 chi và 29 họ thực vật hiện diện trên cả hai trạng thái rừng. Trạng thái IIA bắt gặp 51 loài (32 họ), trong khi trạng thái IIB có 49 loài (27 họ). Họ Sao Dầu (Dipterocarpaceae) giữ ưu thế sinh thái tuyệt đối ở cả hai trạng thái với chỉ số IVI đạt 41,4% ở IIA và 38,3% ở IIB. Loài Dầu cát chiếm ưu thế lớn nhất với IVI đạt 16,5% ở trạng thái IIA và tăng lên 20,7% ở trạng thái IIB.

Thứ hai, cấu trúc mật độ và trữ lượng có sự phân hóa mạnh mẽ giữa hai giai đoạn diễn thế. Trạng thái rừng IIA có mật độ trung bình 895 cây/ha, tổng tiết diện ngang 6,8 m2/ha và trữ lượng gỗ 42,8 m3/ha. Ngược lại, trạng thái rừng IIB sở hữu mật độ 802 cây/ha nhưng có tổng tiết diện ngang lên tới 16,6 m2/ha (cao hơn 144,1% so với IIA) và trữ lượng đạt 94,2 m3/ha (vượt 120,1% so với IIA). Đáng chú ý, ở trạng thái IIB, nhóm cây có đường kính D > 20 cm chiếm tới 69,3% tổng trữ lượng lâm phần, tương ứng 65,2 m3/ha.

Thứ ba, các chỉ số cấu trúc không gian phản ánh bước tiến rõ rệt về độ thuần thục sinh thái. Phân bố N/D của cả hai trạng thái đều tuân theo hàm giảm dạng chữ J ngược, chứng minh lâm phần có cấu trúc rừng tự nhiên ổn định. Phân bố N/H có dạng một đỉnh lệch trái với mật độ tập trung dày đặc nhất ở cấp chiều cao H = 8 m. Chỉ số phức tạp cấu trúc (SCI) của trạng thái IIB đạt 1,6, cao hơn 77,8% so với mức 0,9 của trạng thái IIA. Tương tự, chỉ số cạnh tranh tán (CCI) tăng từ 0,739 ở IIA lên 0,932 ở IIB.

Thứ tư, tiềm năng tái sinh tự nhiên ghi nhận ở mức cao nhưng có sự chênh lệch về số lượng và chất lượng. Mật độ tái sinh ở trạng thái IIA đạt 3.667 cây/ha, vượt trội hơn so với mức 3.208 cây/ha của trạng thái IIB. Hơn 70% lượng cây tái sinh tập trung ở cấp chiều cao thấp H < 100 cm. Hệ số tương đồng Sorensen về thành phần loài giữa tầng cây tái sinh và tầng cây mẹ vượt mức 50%, bảo đảm tính kế thừa sinh thái bền vững.

Thảo luận kết quả

Sự khác biệt về chỉ số phức tạp cấu trúc (SCI tăng từ 0,9 lên 1,6) và chỉ số Shannon-Wiener (tăng từ 2,87 lên 2,99) khẳng định trạng thái IIB đã tích lũy sinh khối và hoàn thiện tầng tán vượt trội so với trạng thái IIA. Khi rừng tiến dần đến trạng thái IIB, sự cạnh tranh không gian dinh dưỡng trở nên gay gắt hơn, đẩy chỉ số cạnh tranh tán CCI từ 0,739 lên 0,932, dẫn đến hiện tượng tự tỉa thưa tự nhiên làm giảm mật độ từ 895 cây/ha xuống 802 cây/ha.

Về phương thức biểu diễn trực quan, các kết quả phân bố số cây theo cấp đường kính được mô phỏng hoàn hảo qua biểu đồ hàm mũ suy giảm, làm nổi bật đặc trưng của quần xã đang phục hồi tích cực. Sự chuyển dịch cơ cấu trữ lượng được minh họa rõ nét qua biểu đồ cột phân nhóm đường kính: nhóm D < 10 cm chiếm ưu thế tuyệt đối về mật độ ở cả hai trạng thái (58,2% - 84,4%), nhưng đóng góp trữ lượng lại dịch chuyển rõ rệt từ nhóm D < 10 cm ở trạng thái IIA (40,3%) sang nhóm D > 20 cm ở trạng thái IIB (69,3%).

So sánh với các công trình nghiên cứu về rừng thứ sinh miền Đông Nam Bộ, ưu thế của các loài thuộc họ Sao Dầu như Dầu cát, Làu táu, Vên vên tiếp tục khẳng định tính đại diện cao của khu hệ thực vật bản địa. Tuy nhiên, việc phần lớn cây tái sinh bị ứ đọng ở cấp chiều cao H < 100 cm và suy giảm mạnh ở cấp H > 200 cm cho thấy tầng cây con đang chịu áp lực cạnh tranh gay gắt từ cây bụi và thảm tươi tầng mặt.

Đề xuất và khuyến nghị

Thực hiện khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp làm giàu rừng: Ban Quản lý Rừng phòng hộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cần triển khai phát dọn thực bì, dây leo chèn ép định kỳ 2 lần/năm và trồng bổ sung các loài cây bản địa như Dầu cát, Làu táu, Vên vên với mật độ 300 - 500 cây/ha tại các lâm phần trạng thái IIA trong giai đoạn 2024 - 2026, nhằm nâng độ tàn che lên trên 0,6 và thúc đẩy chỉ số SCI từ 0,9 lên 1,3.

Áp dụng biện pháp tỉa thưa nuôi dưỡng và điều chỉnh không gian sinh dưỡng: Đơn vị quản lý rừng cần tiến hành bài cây, chặt vệ sinh các cây sâu bệnh, cây cong queo chèn ép cây mục tiêu tại các khu vực rừng trạng thái IIB trong khung thời gian 2025 - 2028, duy trì chỉ số cạnh tranh tán CCI ổn định ở ngưỡng 0,75 - 0,80 để tập trung tăng trưởng trữ lượng cho nhóm cây có đường kính D > 20 cm.

Bảo tồn nguồn gen các loài thực vật nguy cấp, quý hiếm: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phối hợp cùng Chi cục Kiểm lâm khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt các cá thể Cẩm lai Bà Rịa, Gụ mật, Trắc và Cẩm thị tại tiểu khu 6 và 13 trong năm 2025, đồng thời xây dựng vườn ươm nhân giống ngoại vi để bảo tồn nguồn gen bản địa có nguy cơ tuyệt chủng.

Thiết lập hệ thống giám sát sinh thái định kỳ: Lực lượng kiểm lâm cơ sở và cán bộ kỹ thuật cần định vị cố định 6 ô tiêu chuẩn nghiên cứu để theo dõi liên tục các biến động về chỉ số đa dạng Shannon-Wiener (hướng tới mục tiêu H' > 3,2) và tỷ lệ sống của cây tái sinh tầng cao (đạt trên 500 cây/ha ở cấp H > 200 cm) theo chu kỳ đánh giá 2 năm một lần từ năm 2025 đến năm 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Ban Quản lý rừng phòng hộ và ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên: Vận dụng bộ tham số định lượng về mật độ 802 - 895 cây/ha, trữ lượng 42,8 - 94,2 m3/ha và chỉ số cạnh tranh tán CCI để xây dựng phương án quản lý rừng bền vững và thiết kế các hạng mục lâm sinh chuẩn xác.

Cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp (Sở Nông nghiệp & PTNT, Chi cục Kiểm lâm): Khai thác dữ liệu thực chứng về 52 loài cây gỗ và cơ cấu diễn thế phục hồi để xây dựng chính sách phân vùng bảo vệ rừng ven biển, thẩm định các dự án trồng rừng thay thế và làm giàu rừng phòng hộ cấp tỉnh.

Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng: Sử dụng luận văn như tài liệu tham khảo chuyên sâu về phương pháp ứng dụng mô hình toán học (phân bố Beta, phân bố Meyer) và các phần mềm chuyên ngành (Statgraphics Plus, Primer 5.0) trong phân tích quần xã thực vật nhiệt đới.

Các tổ chức phi chính phủ và đơn vị tư vấn môi trường: Sử dụng các chỉ số đa dạng sinh học Margalef, Shannon-Wiener và hệ số tương đồng Sorensen trong luận văn làm dữ liệu nền tảng (baseline data) để thiết kế các dự án bảo tồn đa dạng sinh học và thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng duyên hải.

Câu hỏi thường gặp

Trạng thái rừng IIA và IIB tại núi Minh Đạm khác biệt căn bản ở những đặc trưng nào? Trạng thái IIA có mật độ cây lớn hơn đạt 895 cây/ha nhưng trữ lượng gỗ thấp chỉ 42,8 m3/ha và tiết diện ngang 6,8 m2/ha. Ngược lại, trạng thái IIB có trữ lượng lên tới 94,2 m3/ha, tiết diện ngang 16,6 m2/ha cùng chỉ số phức tạp cấu trúc SCI đạt 1,6, phản ánh mức độ phục hồi sinh khối vượt trội hơn hẳn so với mức SCI 0,9 của IIA.

Họ thực vật nào đóng vai trò ưu thế sinh thái quyết định trong khu vực nghiên cứu? Họ Sao Dầu (Dipterocarpaceae) chiếm ưu thế áp đảo tại cả hai trạng thái với chỉ số giá trị quan trọng IVI đạt 41,4% ở IIA và 38,3% ở IIB. Loài Dầu cát giữ vai trò cấu trúc chủ đạo với IVI từ 16,5% đến 20,7%, kết hợp cùng các loài đồng ưu thế như Làu táu và Vên vên để hình thành nên tầng tán chính của lâm phần.

Khả năng tái sinh tự nhiên dưới tán rừng có bảo đảm cho sự tự phục hồi của thảm thực vật không? Mật độ tái sinh tự nhiên đạt mức khả quan với 3.667 cây/ha ở trạng thái IIA và 3.208 cây/ha ở trạng thái IIB, hệ số tương đồng Sorensen so với tầng cây mẹ đạt trên 50%. Tuy nhiên, do phần lớn cây con tập trung ở cấp chiều cao dưới 100 cm, rừng cần các biện pháp hỗ trợ lâm sinh như phát dọn dây leo để cây tái sinh vượt lên tầng cao.

Mô hình toán học nào phản ánh chính xác nhất quy luật phân bố số cây theo đường kính của lâm phần? Hàm phân bố mũ Meyer chứng minh độ thích ứng tối ưu nhất dựa trên tiêu chuẩn tổng bình phương sai lệch cực tiểu (SSRmin). Quy luật này biểu thị số lượng cá thể suy giảm liên tục từ nhóm đường kính nhỏ D < 10 cm đến nhóm đường kính lớn D > 20 cm, phản ánh trạng thái rừng tự nhiên đang trong quá trình phục hồi diễn thế ổn định.

Những loài cây gỗ quý hiếm nào tại khu vực nghiên cứu đang đối mặt với nguy cơ suy giảm số lượng? Nghiên cứu ghi nhận sự hiện diện rất hạn chế của các loài cây gỗ bản địa có giá trị bảo tồn cao như Cẩm lai Bà Rịa, Gụ mật, Trắc và Cẩm thị. Số lượng cá thể của các loài này bị suy giảm mạnh do khai thác lịch sử, đòi hỏi phải có giải pháp khoanh nuôi bảo vệ vi mô và nhân giống khẩn cấp.

Kết luận

  • Xác định danh lục 52 loài cây gỗ thuộc 43 chi, 29 họ với sự thống trị sinh thái của họ Sao Dầu (chỉ số IVI đạt 38,3% - 41,4%).
  • Định lượng sự vượt trội về cấu trúc của trạng thái IIB (trữ lượng 94,2 m3/ha, SCI = 1,6) so với trạng thái IIA (trữ lượng 42,8 m3/ha, SCI = 0,9).
  • Chứng minh quy luật phân bố số cây theo cấp đường kính tuân thủ mô hình hàm mũ giảm dần và phân bố chiều cao đạt đỉnh tập trung ở cấp 8 m.
  • Đánh giá tiềm năng tái sinh tự nhiên dồi dào với mật độ 3.208 - 3.667 cây/ha cùng hệ số tương đồng loài cao so với tầng cây mẹ.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp lâm sinh đồng bộ bao gồm khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, tỉa thưa nuôi dưỡng, bảo tồn nguồn gen quý hiếm và giám sát định kỳ.

Đóng góp chính của luận văn là thiết lập hệ thống dẫn liệu khoa học thực chứng có độ tin cậy cao, giải quyết triệt để khoảng trống dữ liệu lâm học định lượng tại khu vực núi Minh Đạm. Các đơn vị quản lý rừng cần sớm đưa các khuyến nghị kỹ thuật vào kế hoạch hành động lâm sinh giai đoạn 2024 - 2028 và duy trì mạng lưới giám sát sinh thái đến năm 2030. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và cơ quan lâm nghiệp hãy ứng dụng ngay bộ chỉ số này để nâng cao hiệu quả bảo tồn và làm giàu hệ sinh thái rừng phòng hộ ven biển.