CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Khái niệm rừng Ngay từ thủa sơ khai, con người đã có những khái niệm cơ bản nhất về rừng, bởi lẽ rừng chính là nơi cung cấp mọi thứ phục vụ cuộc sống của họ. Lịch sử ngày càng phát triển thì những khái niệm về rừng được tích lũy, hoàn thiện thành những học thuyết về rừng.
Năm 1930, Morozov đã đưa ra khái niệm: “Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển. Rừng chiếm phần lớn bề mặt trái đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý” (Trường Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh, 2013) Năm 1952, M.Tcahenco đã định nghĩa: “Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và cả vi sinh vật. Trong quá trình phát triển của mình, chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài” (Trường Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh, 2013) Năm 1974, LS.Melekhop cho rằng: “Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu” (Trường Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh, 2013) Việt Nam, tại kỳ họp thứ 6, khóa XI, Quốc Hội nước ta đã ra luật số 29/2004/QH11 ngày 03 tháng 12 năm 2004, trong đó nêu rõ: “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng”(Quốc hội, 2004).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Mặc dù các khái niệm đưa ra vào các thời điểm khác nhau, tuy nhiên, tựu trung lại, tác giả xin đưa ra khái niệm về rừng như sau: “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các yếu tố thực vật rừng tự nhiên hoặc do con người trồng mới hoặc khoanh nuôi tái sinh trên đất trồng rừng, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc thực vật đặc trưng là những thực vật chính chiếm ưu thế; động vật rừng sống hoang dã trong rừng; vi sinh vật rừng; quần xã thực vật rừng phải có một diện tích đủ lớn để tạo ra hoàn cảnh rừng đặc trưng và những yếu tố tự nhiên, môi trường do rừng tạo ra khác với hoàn cảnh bên ngoài, độ khép tán của quần xã thực vật phải lớn hơn 0,1”. Đặc điểm và phân loại rừng 1. Đặc điểm của rừng Có thể nói, rừng là một quần xã sinh vật với diện tích đủ lớn trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu. Trong đó, quần xã sinh vật và môi trường cùng với các thành phần trong quần xã sinh vật phải có mối quan hệ mật thiết để đảm bảo khác biệt giữa hoàn cảnh rừng và các hoàn cảnh khác.
Do vậy, rừng có những đặc điểm cụ thể như sau: Thứ nhất, rừng là một thể tổng hợp phức tạp có mối quan hệ qua lại giữa các cá thể trong quần thể, giữa các quần thể trong quần xã và có sự thống nhất giữa chúng với hoàn cảnh trong tổng hợp đó (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2004). Thứ hai, rừng luôn luôn có sự cân bằng động, có tính ổn định, tự điều hòa và tự phục hồi để chống lại những biến đổi của hoàn cảnh và những biến đổi về số lượng sinh vật, những khả năng này được hình thành do kết quả của sự tiến hóa lâu dài và kết quả của sự chọn lọc tự nhiên của tất cả các thành phần rừng (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2004). Thứ ba, rừng có khả năng tự phục hồi và trao đổi cao. Khả năng tự phục hồi giúp rừng chống lại những thay đổi nhất định (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2004).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Thứ tư, rừng có sự cân bằng đặc biệt về sự trao đổi năng lượng và vật chất, luôn luôn tồn tại quá trình tuần hoàn sinh vật, trao đổi vật chất năng lượng, đồng thời nó thải ra khỏi hệ sinh thái các chất và bổ sung thêm vào đó một số chất từ các hệ sinh thái khác (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2004). Thứ năm, sự vận động của các quá trình nằm trong các tác động tương hỗ phức tạp dẫn tới sự ổn định bền vững của hệ sinh thái rừng (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2004). Thứ sáu, rừng có phân bố địa lý theo vùng miền, địa phương. Các vùng miền, địa phương có điều kiện khác nhau có kiểu rừng khác nhau, hệ sinh thái rừng cũng có những đặc trưng riêng theo vùng miền (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2004).
Phân loại rừng Theo Thông tư Số 34/2009/TT-BNNPTNT ngày 10/6/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn có 06 kiểu phân loại rừng, Cụ thể: Phân loại rừng theo mục đích sử dụng. Phân loại rừng theo nguồn gốc hình thành. Phân loại rừng theo điều kiện lập địa (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2016). Phân loại rừng theo loài cây (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2016).
Phân loại rừng theo trữ lượng (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2016). Đất chưa có rừng (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2016). Vai trò của rừng Rừng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với toàn bộ cuộc sống của con người trên trái đất, cụ thể như sau: Thứ nhất, rừng là nơi tạo ra số lượng sinh khối lớn nhất. Hiện nay, tất cả thực vật trên Trái Đất đã tạo ra 53 tỷ tấn sinh khối (ở trạng thái khô tuyệt đối là 64%) thì rừng chiếm 37 tỷ tấn (tương ứng với 70%).
Trong đó, trung bình một hecta rừng hàng năm tạo nên sinh khối khoảng 300 - 500 kg, 16 tấn oxy (rừng thông 30 tấn, rừng trồng 3 - 10 tấn) (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2004). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Thứ hai, rừng là lá phổi xanh của thế giới, giúp cung cấp phần lớn oxy cho hoạt động sống của con người. Thực vậy, theo thống kê của các nhà khoa học, các cây rừng sẽ thải ra 52,5 tỷ tấn (chiếm 44%) oxy để phục vụ cho hô hấp của con người, động vật và sâu bọ trên Trái Đất trong khoảng 2 năm. Trong đó trung bình mỗi người một năm cần 4.000 kg O2 để thở, tương ứng với lượng oxy do 1.000 m² cây xanh tạo ra trong một năm.
Do đó, rừng giúp ích cho sự sống của con người và động vật (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2004). Thứ ba, rừng là thảm thực vật của những cây thân gỗ trên bề mặt Trái Đất, giữ vai trò to lớn đối với con người như: cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hòa khí hậu, tạo ra oxy, điều hòa nước, nơi cư trú động thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2004). Thứ tư, rừng còn có tác dụng điều hòa không khí. Điều này có được là do nhiệt độ không khí rừng thường thấp hơn nhiệt độ đất trống 3 - 5°C [1].
Thứ năm, rừng còn giúp bảo vệ và ngăn chặn gió bão. Các thống kê cho thấy, tại những nơi có rừng trồng, tỷ lệ nhà cửa bị ảnh hưởng do bão và các thiệt hại do thiên tai xảy ra giảm đáng kể so với những nơi không có rừng. Đồng thời, lượng đất xói mòn của vùng đất có rừng chỉ bằng 10% lượng đất xói mòn của vùng đất không có rừng (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2004) Thứ sáu, rừng còn là nguồn gen vô tận của con người, là nơi cư trú của các loài động thực vật quý hiếm như các loài hổ, báo, khỉ …(Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2004). Một số vấn đề lý luận về tác động của chính sách quản lý rừng đến phát triển rừng 1.
Các khái niệm cơ bản Rừng có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của con người. Tuy nhiên, hiện nay, do khai thác trái phép quá mức đã ảnh hưởng không nhỏ đến cảnh quan, không khí khiến thời tiết nóng hơn, khắc nghiệt hơn… gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của rừng nói riêng và cuộc sống con người nói chung. Chính vì vậy, thực hiện quản lý và phát triển rừng là việc làm vô cùng cần thiết trong giai đoạn hiện nay. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Khái niệm quản lý rừng và quản lý rừng bền vững Quản lý rừng được hiểu là các cơ quan quản lý rừng ban hành các chính sách, quy định, tổ chức các hoạt động nhằm bảo vệ rừng và các tài nguyên rừng; đảm bảo cho các chủ rừng thu được lợi ích về gỗ, lâm sản và giá trị dịch vụ từ rừng mà không làm thay đổi diện tích, trữ lượng và năng suất lâm sản trong đó và không làm ảnh hưởng tới lợi ích lâu dài của khu rừng. Quản lý rừng bền vững là việc đóng góp của công tác lâm nghiệp đối với sự phát triển. Sự phát triển đó phải mang lợi ích kinh tế, môi trường và xã hội, có thể cân bằng giữa nhu cầu hiện tại và tương lai. Như vậy, “quản lý rừng bền vững còn là quá trình quản lý rừng để đạt được một hay nhiều mục tiêu cụ thể xem xét đến việc phát triển sản xuất dịch vụ và sản phẩm lâm nghiệp, đồng thời không làm giảm giá trị hiện có và ảnh hưởng đến năng suất sau này, cũng như không gây ra các tác động xấu đến môi trường tự nhiên và xã hội”[ (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2006).
Khái niệm bảo vệ rừng Ngoài việc quản lý rừng bền vững, nhà nước cũng cần phải thực hiện bảo vệ rừng. “Bảo vệ rừng là tổng thể các hoạt động nhằm bảo toàn, phát triển hệ sinh thái rừng hiện có, bao gồm thực vật, động vật rừng, đất lâm nghiệp và các yếu tố tự nhiên khác; phòng, chống những tác động gây thiệt hại đến đa dạng sinh học của rừng, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái” (Nguyễn Huy Dũng, 2002). Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Huy Dũng (2002) cho rằng bảo vệ rừng bao gồm các hoạt động sau: Thứ nhất, phải thực hiện tốt công tác tổ chức phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm hại đến rừng như: phá rừng, đốt rừng, lấn chiếm rừng, đất lâm nghiệp; khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản; xuất nhập khẩu thực vật rừng, động vật rừng; săn bắn động vật rừng, chăn thả gia súc vào rừng trái quy định của pháp luật (Nguyễn Huy Dũng, 2002). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.