MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Vấn đề về an ninh lương thực đang thu hút được nhiều sự chú ý trong thời gian gần đây đối với các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển. Cùng với đó là vấn đề về an toàn thực phẩm cũng có tầm quan trọng rất lớn đối với người dân ở các nước đang phát triển do sự phức tạp của các cuộc khủng hoảng về kinh tế và môi trường đem lại. Hơn nữa, việc tiếp cận với thực phẩm an toàn đang trở thành quyền cơ bản đối với mỗi con người.
Thực tế cho thấy, thế giới đã trải qua cuộc khủng hoảng lớn liên quan đến lương thực, thực phẩm. Theo báo cáo gần đây của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hơn 1/3 dân số các nước phát triển bị ảnh hưởng của các bệnh do thực phẩm gây ra mỗi năm. Ước tính 600 triệu người, tức là 1/10 người trên thế giới, bị bệnh sau khi ăn uống và 420 000 người chết mỗi năm [34]. Xu hướng ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm xảy ra ở quy mô rộng nhiều quốc gia càng trở nên phổ biến.
Chính vì vậy, an ninh lương thực và an toàn thực phẩm có mối liên hệ chặt chẽ và song hành với nhau. Đảm bảo an toàn thực phẩm và giảm thiểu tác động của rủi ro liên quan đến thực phẩm là trách nhiệm đối với các bên liên quan, không chỉ với quốc gia mà còn với các tổ chức quốc tế. Ở Việt Nam, các loại thực phẩm lưu hành trên thị trường ngày càng nhiều chủng loại. Tuy nhiên, việc phân phối các sản phẩm trên thị trường hiện nay vẫn mang tính tự phát, nguồn cung cấp các sản phẩm này phần lớn từ các hộ kinh doanh cá thể trên mạng lưới tiêu thụ tại các chợ truyền thống.
Bên cạnh các chợ có sự quản lý của cơ quan chức năng, thịt vẫn được bán phổ biến tại các chợ cóc, ngõ phố nhỏ, người bán rong do mang lại sự thuận tiện cao cho người tiêu dùng. Chợ truyền thống là nơi phân phối chính chiếm gần 86% mặt hàng thịt lợn, 78% thịt bò và 75% thịt gia cầm [9]. Trong đó, thịt lợn là sản phẩm chính trong mỗi bữa ăn của người Việt, chiếm 72% tổng lượng thịt tiêu dùng. Nhu cầu tiêu dùng thịt lợn hàng ngày ngày càng tăng cao cả về số lượng và chất lượng.
Đồng thời với việc gia tăng về sản lượng và chất lượng để cung cấp theo nhu cầu thị trường, nghề chăn nuôi lợn thịt ở nước ta hiện nay đã bộc lộ những hậu quả rất bất cập, trong đó bất cập lớn nhất là tình trạng mất an toàn về chất lượng sản phẩm thịt lợn, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người. Tình trạng bị ngộ độc thực phẩm do ăn phải thịt lợn còn tồn dư 1 chất kháng sinh, thịt lợn siêu nạc,…xảy ra thường xuyên trong những năm gần đây và có xu hướng ngày càng gia tăng, gây lo ngại cho toàn xã hội. Nước ta hiện nay hàng năm có tối thiểu 1,5 triệu người bị mắc bệnh truyền nhiễm qua thực phẩm, chi phí cho các thiệt hại tới trên 100 tỷ đồng [3]. Việc ứng dụng một cách ồ ạt, thiếu chọn lọc các tiến bộ kỹ thuật về hóa học, công nghệ sinh học cũng như việc hướng dẫn và quản lý sử dụng thuốc kháng sinh còn lỏng lẻo; tình trạng sử dụng các chất bổ trợ trong thức ăn chăn nuôi lợn khá tùy tiện.
Từ đó đã để lại tồn dư các hóa chất, kháng sinh trong sản phẩm chăn nuôi, gây nguy hại nghiêm trọng đến sức khỏe người dân. Hay tình trạng tư thương/ người phân phối vì lợi nhuận mà thực hiện quy trình giết mổ không đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm, tiêm thuốc an thần, bơm nước vào cơ thể lợn trước khi giết mổ được đề cập nhiều trên các phương tiện truyền thông đại chúng gần đây. Điển hình như Hà Nội một trong những thành phố lớn, với tổng số dân cư lên tới gần 7 triệu người. Với mức độ tiêu thụ thịt lợn trên địa bàn thành phố Hà Nội tương đối cao, nhưng vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm đối với thịt lợn tại Hà Nội đang là một trong những vấn đề bức thiết hiện nay.
Theo kết quả điều tra của Chi cục Thú y thành phố Hà Nội năm 2014, trong 1500 mẫu thịt lợn lấy tại thành phố Hà Nội có 30% mẫu dương tính với chất clenbuterol, lượng hóa chất này tồn dư 100% trong cơ thể động vật, 60% tồn lưu trong gan, thận ngay cả khi nấu chín. Trước tình hình này, người tiêu dùng đang gặp nhiều khó khăn trong việc lựa chọn những thực phẩm an toàn, đảm bảo tiêu chí về vệ sinh, an toàn thực phẩm để bảo vệ sức khỏe cho chính bản thân và gia đình. Vì vậy, vấn đề chất lượng, nguồn gốc của sản phẩm thịt lợn được người tiêu dùng và toàn xã hội quan tâm, đặt ra nhiều câu hỏi cần nghiên cứu trả lời, đồng thời đây cũng là cơ sở đề xuất giải pháp can thiệp hiệu quả quá trình giết mổ, phân phối, tiêu dùng thực phẩm thịt lợn an toàn trên địa bàn đô thị. Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hành vi tiêu dùng thực phẩm thịt lợn an toàn của cư dân đô thị ” (Nghiên cứu tại khu đô thị Đặng Xá và khu đô thị Ecopark) nhằm tập trung tìm hiểu hành vi tiêu dùng và phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới việc lựa chọn thịt lợn của người tiêu dùng tại các khu đô thị.
Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2. Thực trạng an toàn thực phẩm hiện nay Hiện nay, việc đảm bảo an toàn thực phẩm trong sản xuất, phân phối bán lẻ có “thương hiệu”, được đầu tư, phát triển theo hướng “bền vững” thực hiện các quy định về bảo đảm an toàn thực phẩm khá tốt, đã và được nhiều người tiêu dùng lựa chọn. Tuy nhiên, nguy cơ không bảo đảm an toàn thực phẩm đối với sản phẩm thực phẩm kể cả kênh bán buôn, bán lẻ trên thị trường đều chứa đựng nguy cơ mất an toàn thực phẩm, ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng - an sinh xã hội và phát triển kinh tế. Trong nghiên cứu về “Thực trạng mất vệ sinh an toàn thực phẩm ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Văn Chương (2016) đã chỉ ra được tầm quan trọng của an toàn thực phẩm đối với sức khỏe con người, và những thách thức, thực trạng an toàn thực phẩm ở nước ta hiện nay.
Theo tác giả, tình hình cả nước trong những năm qua công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đã đạt được một số thành tựu nhất định, kim ngạch xuất khẩu nông sản và thuỷsản tăng từ 2.367,2 triệu USD năm 1995 lên 30,14 tỷ USD trong năm 2015; diện tích rau an toàn không ngừng mở rộng, nhiều cơ sở được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất rau an toàn. Năm 2015 đã xây dựng và phát triển 10% vùng sản xuất nông sản, thực phẩm an toàn. Hiện Hà Nội cũng có 48 cơ sở sơ chế rau an toàn (RAT) là 48 chuỗi tiêu thụ RAT theo liên kết dọc. Trong đó, có 9/48 chuỗi tự tổ chức sản xuất rau, không thu gom, 23/48 chuỗi vừa sản xuất, vừa thu gom và 16/48 chuỗi chỉ thu gom, không sản xuất rau.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn những tồn tại mà để khắc phục nó không còn cách nào khác là phải nhìn vào thực trạng như: Ngộ độc thực phẩm ở các bếp ăn tập thể, các khu công nghiệp, công trường, bệnh viện, trường học đang có chiều hướng gia tăng. Trong năm 2015, toàn quốc ghi nhận 171 vụ ngộ độc thực phẩm với 4.965 người mắc và 23 trường hợp tử vong [4]. Thực phẩm nhập lậu qua biên giới diễn biến phức tạp, khó kiểm soát. Thực phẩm giả, thực phẩm kém chất lượng vẫn tràn lan trên thị trường… Nhưng chưa nêu ra được nguyên nhân của những thách thức đối với thực trạng mất vệ sinh an toàn thực phẩm ở nước ta hiện nay.
Ngoài ra, công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đã đạt được một số thành tựu nhất định. Hà Nội có 48 cơ sở sơ chế thực phẩm an toàn. Thực phẩm an 3 toàn có tem, nhãn nhận diện, truy xuất nguồn gốc, được tiêu thụ qua 18 doanh nghiệp, 17 hợp tác xã cung cấp cho các cửa hàng bán lẻ, điểm phân phối, bếp ăn tập thể và hệ thống siêu thị với sản lượng gần 20. Việc xây dựng mô hình chăn nuôi an toàn áp dụng VietGap được triển khai tích cực.
Việc thử nghiệm, khảo nghiệm và ban hành danh mục thuốc thú y cấm sử dụng, được phép sử dụng và hạn chế sử dụng được thực hiện đúng qui định pháp luật. Công tác kiểm tra, lấy mẫu thuốc thú y tiêu thụ trên thị trường của cơ sở sản xuất, buôn bán thuốc thú y để kiểm tra chất lượng được duy trì. Nhiều vụ việc vi phạm được phát hiện và xử lý kịp thời. Số lượng siêu thị tăng nhanh trong những năm gần đây nhưng phần lớn người tiêu dùng vẫn ưa chuộng mua thực phẩm tại các kênh bán hàng truyền thống hơn.
Nghiên cứu của công ty AC Neilsen vào đầu năm 2011 cho biết gần 80% số người được phỏng vấn trả lời cho rằng họ thường xuyên mua thực phẩm các tại kênh truyền thống như: chợ truyền thống, chợ trời, chợ lề đường và chỉ hơn 20% người trả lời họ thường xuyên mua thực phẩm tại các siêu thị. Tính đến nay, trong cả nước đã xây dựng được 8.333 chợ các loại, trong đó có 86 chợ đầu mối. Việc xây dựng các chợ đầu mối đã góp phần kiểm soát chất lượng an toàn của nguồn nguyên liệu thực phẩm. Tình trạng tư thương sử dụng các hóa chất bảo quản thực phẩm không rõ nguồn gốc, đặc biệt là với rau quả, nội tạng, thịt động vật vẫn xảy ra.
Thực phẩm giả, kém chất lượng nhập lậu qua biên giới nhiều gây ra tình trạng các cơ quan chức năng khó kiếm soát được nguồn gốc và đảm bảo được an toàn vệ sinh thực phẩm [38]. Hiện nay trên thị trường vẫn lẫn lộn các sản phẩm không phân biệt được thật giả. Nhiều trường hợp không qua kiểm tra vẫn đóng dấu vệ sinh thú y, bán vé kiểm dịch tại chợ. Việc thực hiện các quy định về an toàn thực phẩm tại các chợ ở nông thôn, nội đô, chợ cóc, chợ tạm hiện vẫn còn bất cập.
Buôn bán thực phẩm ở Việt Nam quy mô vẫn còn nhỏ lẻ dẫn đến việc kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm gặp nhiều khó khăn.