Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO TĂNG NI SINH VIÊN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề giáo dục kỹ năng mềm cho Tăng Ni sinh viên trên thế giới và tại Việt Nam 1. Trên thế giới Những nghiên cứu giáo dục kỹ năng mềm trên thế giới khá phong phú và được khai thác dưới nhiều góc độ khác nhau không chỉ mới giai đoạn gần đây mà thực tế đã được đề cập từ rất lâu, lấy nguồn gốc từ giáo dục phát triển con người toàn diện. Từ thời cổ đại đến cận đại, các nhà triết học cũng như các nhà giáo dục như Scocrates (469-390 TCN), Arixtot (384-322 TCN), Coomenxki J.A (1592-1670) đã quan tâm đến nhiều vấn đề để phát triển một con người toàn diện, không chỉ giáo dục chuyên môn, kiến thức mà còn giáo dục về nhiều lĩnh vực khác nhau như: lao động, sức khỏe, kỹ năng, hợp tác v.
Giữa thế kỷ XIX, Các Mác (1818-1883) và Anghen (1820-1895) cho rằng, giáo dục con người xã hội chủ nghĩa là giáo dục con người phát triển toàn diện. Quan niệm giáo dục là phát triển nhân cách con người về mọi mặt theo phương thức giáo dục kết hợp với lao động sản xuất [26]. Kỹ năng mềm được quan tâm nhiều hơn trên thế giới từ năm 1980 đến năm 2000 và cho đến ngày nay. Các chuyên gia như Brian Tracy, Tony Robbins, Adam Khoo, Jack Canfield, Les Brown, Janiv Zaid v.v nhận ra rằng, thực tế kiến thức chuyên môn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu thực tiễn, điều mà người học thiếu chính là sự áp dụng khéo léo và sáng tạo những điều đã học cũng như khả năng thấu hiểu, thiết lập quan hệ với đồng nghiệp, quản lý v.
Vì vậy, thuật ngữ KNM xuất hiện và vấn đề nghiên cứu về KNM trong GD được quan tâm mạnh mẽ. Trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về GD KNM cho nhiều nhóm đối tượng khác nhau như học sinh, sinh viên, kỹ sư, bác sĩ, nhân viên y tế , TNSV, v. 8 Daniel Goleman đã phác thảo được bản chất của trí thông minh cảm xúc và tác động to lớn của nó lên rất nhiều mặt trong cuộc sống, đồng thời, ông cũng mô tả những con đường trí tuệ cảm xúc phát triển và cách để mọi người cải thiện nó. Qua đây, bàn về trí tuệ cảm xúc đã đưa ra một hệ thống kỹ năng giúp con người nhận thức và quản lý cảm xúc của bản thân và của những người khác.
Daniel Goleman cũng cung cấp những kiến thức mới về mối liên hệ giữa sự thành công, năng lực nhận thức và khả năng cảm nhận, cùng những lời khuyên hữu ích để nâng cao chỉ số EQ [9]. Nghiên cứu về KNM thế hệ Z (2019), Bruce Tulgan cho rằng, giới trẻ ngày nay được trang bị nhiều phương pháp, kỹ thuật mới, luôn tạo ra những ý tưởng mới, quan điểm mới, mang lại nguồn năng lượng mới cho bản thân và công việc nhưng lại bị mắc kẹt trong lỗ hổng KNM. Thế nên, nhiều bạn trẻ tuy có năng lực chuyên môn cao nhưng lại bị sa thải do KNM yếu kém. Ông đã đưa ra các KNM thiết yếu cho giới trẻ, gồm: – Nhóm kỹ năng mềm chuyên nghiệp: kỹ năng đánh giá bản thân, trách nhiệm cá nhân, thái độ tích cực, thói quen làm việc tốt và kỹ năng xã hội.
– Nhóm kỹ năng mềm tư duy lý luận: kỹ năng chủ động học hỏi, giải quyết vấn đề, ra quyết định. – Nhóm kỹ năng mềm tinh thần phục vụ: kỹ năng tôn trọng bối cảnh, tinh thần tập thể, tinh thần phục vụ, tinh thần đồng đội. Ở mỗi KNM, Bruce Tulgan đưa ra các giải pháp cụ thể cho việc thiếu hổng KNM của các bạn trẻ, qua những kế hoạch, bài học được thiết kế linh hoạt và dễ sử dụng [34]. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sau khi tìm ra đạo giác ngộ tại Bodgaya, Ngài truyền bá giáo lý thoát khổ cho chúng sinh trong khoảng 45 năm đến nhiều nơi, đến nhiều chủng tộc.
Ngay từ buổi ban đầu, Đức Phật đã tổ chức giáo hội với giới luật chặt chẽ, nhờ vào sự uyển chuyển của giáo pháp, đạo Phật có thể thích nghi với nhiều hoàn cảnh xã hội, nhiều đối tượng con người khác nhau. Ngày nay, Phật giáo vẫn tiếp tục tồn tại và ngày càng phát triển rộng rãi trên toàn thế giới, ngay cả trong các nước có nền khoa học tiên tiến như Hoa Kỳ và Tây Âu. Phật giáo không chỉ đơn thuần là một tôn giáo 9 mà còn là cả một tư tưởng triết học, đạo đức và tư duy. Cuộc đời và những bài thuyết giảng của Đức Phật sẽ là kim chỉ nam cho tất cả những ai đang hướng mình trên con đường hoằng dương chánh pháp.
Giáo dục Phật giáo được Đức Phật thiết lập là quá trình dạy cho con người hiểu biết và thực hành giáo lý Phật giáo, bao gồm kiến thức Phật học và các kỹ năng cần thiết của một con người để họ hội đủ các phẩm chất về hạnh đức, tâm đức và tuệ đức, phát triển thành một con người toàn diện, nhập thế độ sanh, phục vụ đạo pháp và dân tộc. Nghiên cứu giáo dục Phật giáo và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Jeongwan Sumi (2019) đề cập đến bốn trí tuệ mà Tăng Ni cần phải có trong sự phát triển của khoa học và công nghệ, gồm [37, tr. 176]: – Trí tuệ thông minh theo tình huống, bối cảnh là khả năng dự đoán những thay đổi theo xu hướng để giải quyết các vấn đề xã hội, cơ cấu, đạo đức mà Tăng Ni gặp phải trong kỷ nguyên của cuộc cách mạng lần thứ tư. Để phát triển trí thông minh này, Tăng Ni cần phải không ngừng tương tác, hợp tác và kết nối với các tổ chức xã hội một cách đa dạng hơn.
– Trí tuệ cảm xúc giúp con người sáng tạo và phục hồi nhanh hơn, trí tuệ cảm xúc như chức năng của trí tuệ và việc tận dụng nó như là cốt lõi của Phật giáo. – Trí tuệ sáng tạo là khả năng liên tục khám phá những ý nghĩa và mục đích. Điều quan trọng nhất trong trí tuệ sáng tạo là chia sẻ, có nghĩa là cân bằng các phương hướng và phương pháp giữa các mục tiêu cá nhân và mục tiêu chung của toàn xã hội. – Trí tuệ thể chất là KN trau dồi, nuôi dưỡng sức khỏe và hạnh phúc cá nhân.
Jeongwan Sumi cho rằng, âm thanh cơ thể có thể tác động tích cực đến chức năng nhận thức và cảm xúc, sự cân bằng giữa cơ thể, nhận thức và cảm xúc là không thể thiếu trong một thế giới thay đổi liên tục. Jeongwan Sumi cũng đề ra phương pháp đổi mới trong GD Phật giáo, chủ trương dạy học tích hợp, giáo dục Steam v.v nhưng kiến thức nhân văn là không thể thiếu trong việc thiết lập tính nhân văn, giá trị và cải 10 thiện nhận thức. Jeongwan Sumi khẳng định, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo nên thách thức và cơ hội cho Tăng Ni nỗ lực trau dồi và phát triển toàn diện [40]. Nghiên cứu Đạo trong kỷ nguyên mới, Đức Dalai Lama (2011) đưa ra các nội dung như: Nền tảng và phẩm hạnh; Phẩm hạnh và cá nhân; Phẩm hạnh và xã hội.
Các nội dung này đưa ra những phương pháp cách thức để phát triển trí tuệ cảm xúc, KN làm chủ nội tâm, vượt qua khó khăn, xây dựng con người và xã hội hạnh phúc [20]. Nghiên cứu về kỹ năng - trí thông minh nội tâm, Cindy Wigglesworth (2008) đã tổng hợp công trình của nhiều tác giả khác trong lĩnh vực này thành một hệ thống gồm 21 KN, chia làm bốn nhóm: Hiểu mình (KN 1 - 5); Hiểu về thế giới (KN 6 - 11); Làm chủ bản thân (KN 12 - 16); Đối nhân xử thế và sự có mặt nội tâm (KN 17 - 21), những KN này có thể rèn luyện và đo lường được qua các phương pháp như: Rèn luyện nội tâm; Chín bước thay đổi; Ba bài tập hỗ trợ phát triển trí thông minh nội tâm gồm: đặt ra câu hỏi định hướng, điều chỉnh cách nhìn và xây dựng thái độ biết ơn. Chương cuối cùng, có tựa là Thay đổi sâu sắc, ảnh hưởng vô tận là chương có khả năng truyền cảm hứng để bắt đầu một quá trình vui sống với tính người và tiềm năng trọn vẹn [38]. Tạng Nikayda thuộc bộ Đại tạng Kinh Việt Nam đã nêu lên những phẩm chất cần có của Tăng Ni khi là một nhà hoằng pháp, xây dựng một hình mẫu con người lí tưởng, con người hoằng pháp vì lợi ích của cộng đồng.
Trong bài Kinh Thiện pháp, Đức Phật chỉ ra các kỹ năng mà mỗi nhà hoằng pháp cần trang bị cho mình, đó là biết pháp, biết nghĩa, biết thời, biết tiết độ, biết mình, biết chúng hội và biết sự hơn kém của người [6]. Nghiên cứu về kỹ năng thuyết phục và gây ảnh hưởng, Janiv Zaid (2018) đã xóa bỏ quan niệm cho rằng, chỉ những người có năng khiếu mới có thể trở thành những diễn giả xuất sắc. Janiv Zaid đề cập đến các nội dung tạo nên học thuyết về trò chuyện trước công chúng như: Xây dựng bài phát biểu, diện mạo, tư thế và ngôn ngữ cơ thể, mở đầu bài thuyết trình, thu hút sự chú ý kể cả trong những nội dung khó khăn, kết hợp yếu tố hài hước và các câu chuyện cá nhân, thích nghi với đối tượng khán giả, lặp đi lặp lại thông điệp, lý luận thuyết phục, ý thức về thời gian và tốc độ [40]. 11 Kinh Pháp Hoa chỉ ra tâm nguyện và các phương tiện cứu độ chúng sanh của Đức Phật, nêu lên ba kỹ năng quan trọng cần có của một nhà hoằng pháp [32, tr.
257]: Tâm đại từ bi: kỹ năng vận dụng tâm từ bi, ban vui cứu khổ đến cho mọi người trong khi thực hiện sứ mệnh hoằng pháp. Tâm nhu hòa nhẫn nhục: kỹ năng kiềm chế cảm xúc, nhẫn nhục để mang quyền lợi cho người, giữ vững tâm nhu hòa đối với mọi vấn đề gặp phải trong khi hoằng pháp. An trụ pháp không: kỹ năng không vướng mắc vào bất kỳ thứ gì trên con đường hoằng pháp. Khi rèn luyện được ba kỹ năng này, dù ở hoàn cảnh nào, người xuất gia cũng sẽ thành công trên bước đường hoằng pháp.
Bên cạnh những công trình nghiên cứu có giá trị về mặt học thuật, công tác GD KNM cho sinh viên cũng như Tăng Ni trên thế giới cũng được nhiều nước quan tâm và thực hiện bằng nhiều phương pháp, cách thức khác nhau. Tại các trường đào tạo Tăng Ni ở Ấn Độ, Campuchia, Myanmar v.v, Tăng Ni được GD về KNM qua các giờ dạy học và lồng ghép trong các bài học, các buổi sinh hoạt ngoại khóa, các hoạt động văn hóa Phật giáo.