CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG MÔ HÌNH MÔN CUỘC SỐNG MỚI CỦA TRƯỜNG TIỂU HỌC NHẬT BẢN VÀ VẬN DỤNG VÀO DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI CỦA TRƯỜNG TIỂU HỌC VIỆT NAM 1. Khái niệm mô hình dạy học (mô hình; mô hình bài học) Có nhiều cách quan niệm và diễn đạt khác nhau về mô hình. Theo Từ điển Giáo dục học, mô hình là “Sự thể hiện một ý tưởng cần đạt được bằng cách mô phỏng, bắt chước một đối tượng có thật hoặc bằng cách dựa vào một tập hợp những đặc trưng cần chiếm lĩnh nhằm tiếp cận một trạng thái hoàn hảo; Sự đơn giản hóa hoặc sự thu nhỏ một đối tượng thực tiễn về không gian và thời gian để hiểu tốt hơn”.Savin, cơ sở của việc xác định mô hình là khả năng xác định tương quan giữa hiểu biết về các đối tượng trong tư duy với chính các đối tượng thực đó. Sự hiểu biết về cơ cấu chức năng, nhiệm vụ, cơ chế phối hợp hoạt động của đối tượng được mô tả, phản ánh dưới hình thức mô tả.
Theo Đặng Thành Hưng, mô hình là đồ vật thay thế hay ý niệm (tư duy có chủ định) phản ánh một sự vật hay quá trình có thật đang tồn tại hoặc có thể sẽ xuất hiện trong thế giới, cho biết những thuộc tính bản chất nhất, những nguyên lý cơ bản nhất, những đặc điểm nổi bật nhất hiện có hoặc sẽ có của nó một cách tinh giản, khái quát và minh bạch.69] Theo Từ điển Tiếng Việt, “Bài học là bài học sinh phải học, bài học là điều có tác dụng giáo dục, đưa ra những kinh nghiệm bổ ích thường được rút ra từ những sai lầm, thất bại”.25] Như vậy, có thể xác định “Mô hình bài học là hình thức diễn đạt hết sức ngắn gọn các tri thức chủ yếu và hệ thống các thiết bị, các hoạt động học tập mà học sinh cần phải thao tác, trải nghiệm để lĩnh hội các tri thức đó cũng như hình thành các kĩ năng và hành vi liên quan”. 8 Trong mô hình bài học, người ta phân chia khái niệm mô hình lý thực tiễn và mô hình lý thuyết [26] Mô hình thực tiễn thường được hiểu là khuôn mẫu, là chuẩn mực của sự hoàn thiện về vật thực nhằm hỗ trợ cho quá trình nhận thức. Mô hình thực tiễn là mô hình mà chúng ta có thể nhìn thấy và sử dụng. Tuy nhiên mô hình thực tiễn đôi khi không hoàn toàn giống như đối tượng nghiên cứu và cũng để dễ dàng cho việc tìm hiểu, nhận thức về đối tượng.
Mô hình lý thuyết là quan niệm về cấu trúc của một sự vật, hiện tượng hoặc quá trình nào đó. Loại mô hình này có mấy tính chất cơ bản sau: tính đẳng cấu, tính cơ bản và tính lý tưởng của mô hình. Tính đẳng cấu của mô hình lý thuyết thể hiện qua việc mô hình phản ánh những yếu tố, mối quan hệ cơ bản của các hiện tượng và quá trình mà nó mô tả. Tính cơ bản yêu cầu mô hình hóa một hiện tượng hay quá trình nào đó, cần loại bỏ những cái thứ yếu, phụ thuộc, chỉ giữ lại những yếu tố, những mối liên hệ, những thuộc tính cơ bản.
Tính lý tưởng của mô hình thể hiện qua cái đích cần phấn đấu để đạt được trong quá trình phát triển, vì vậy mô hình có tính chỉ đạo, hưỡng dẫn hoạt động thực tiễn. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, mô hình được quan niệm là mô hình lý thuyết, đó là sự mô tả bằng lời hoặc bằng sơ đồ, có vai trò thay thế vật thật, phản ánh cấu trúc, nội dung tổ chức và chức năng cũng như thuộc tính cơ bản khác của đối tượng được mô hình hóa. Cụ thể mô hình bài học môn TN-XH có thể được hiểu là cấu trúc, nội dung, các phương pháp tổ chức bài học môn TN-XH. Như vậy mô hình bài học môn TN-XH bao gồm trên hết là kế hoạch bài học môn học và việc thực hiện bài học đó trong thực tiễn.
Kế hoạch bài học bao gồm: Mục tiêu, các thiết bị chủ yếu về các hoạt động học tập… là bản phác họa trên lý thuyết, còn việc hiện thực hóa kế hoạch bài học đó thể hiện trên các tiết học thông qua các hoạt động của HS và GV. Trên cơ sở mô hình lý thuyết, đề tài tiến hành thử nghiệm một số yếu tố của mô hình để từ đó có 9 được những kết luận về tính khả thi, về các điều kiện cần thiết cho việc triển khai mô hình trong thực tiễn. Khái quát về môn Cuộc sống mới trong giáo dục tiểu học Nhật Bản Cấp tiểu học ở Nhật Bản gồm 6 năm và chia thành các giai đoạn học tập khác với nước ta. Đó là các giai đoạn: đầu tiểu học (lớp 1 và lớp 2), giữa tiểu học (lớp 3 và lớp 4), và cuối tiểu học (lớp 5 và lớp 6).
Trong khi đó cấp tiểu học ở nước ta gồm 5 năm và chia thành 2 giai đoạn: giai đoạn đầu (các lớp 1, 2, 3) và giai đoạn sau (các lớp 4, 5). Cuộc sống mới là môn học bao gồm các kiến thức về các sự vật và hiện tượng của môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh tương đương với môn Tự nhiên và Xã hội trong chương trình hiện hành của nước ta. Ở trường tiểu học của Nhật Bản, môn Cuộc sống mới được dạy học ở các giai đoạn đầu cấp tiểu học - lớp 1, 2, còn ở nước ta môn Tự nhiên và Xã hội được dạy học ở các lớp 1, 2, 3. Ở Nhật Bản có nhiều bộ SGK được sử dụng, thậm chí tên gọi của SGK của cùng một môn ở các bộ SGK khác nhau cũng khác nhau [16], [17], [18], [19].
Phiên bản SGK của môn học này được sử dụng ở Trường Quốc tế Nhật Bản được gọi là Cuộc sống mới mới, gồm 2 cuốn là: Cuộc sống mới mới, tập 1- Hồi hộp, háo hức dành cho lớp 1 (sau đây sẽ gọi tắt là Cuộc sống mới, lớp 1) [14] và Cuộc sống mới mới, tập 2 - Cùng đi tới ngày mai dành cho lớp 2 (sau đây sẽ gọi tắt là Cuộc sống mới, lớp 2) [15]. Môn Cuộc sống mới trong giáo dục tiểu học Nhật Bản gồm các nội dung liên quan mật thiết với nhau, gồm quan hệ giữa bản thân và xã hội (con người và địa phương), mối quan hệ giữa bản thân và tự nhiên, các hoạt động mà học sinh được trực tiếp thao tác giúp các em thu nhận kiến thức mình đã được học. Nội dung chỉ đạo được chỉ ra trong các mục cụ thể trong sách giáo khoa. Học sinh được tìm hiểu về trường học, giáo viên, bạn bè của các em từ 10 đó tìm hiểu về cách vui chơi an toàn, vui vẻ, cùng bạn bè khám phá về trường học.
Các em được quan sát thiên nhiên, tìm hiểu về các mùa cũng như các hoạt động, trò chơi, khám phá các hoạt động xung quanh các mùa trong năm. Bên cạnh đó, học sinh còn được học hỏi trực tiếp từ người dân địa phương, từ những thực tế Cuộc sống mới. Từ đó giúp bản thân trưởng thành cũng như hình thành tình cảm biết ơn đối với mọi người, nuôi dưỡng mơ ước với Cuộc sống mới của mình. Nhìn chung, môn Cuộc sống mới trong giáo dục tiểu học Nhật Bản đáp ứng đầy đủ mục đích của chương trình giáo dục Nhật Bản là hoàn thiện nhân cách con người, đào tạo ra những công dân khỏe mạnh cùng với tinh thần và thể chất được trang bị đầy đủ những tư chất cần thiết để làm người xây dựng xã hội, xây dựng một quốc gia hòa bình dân chủ và những con người có tấm lòng đạo đức, giàu tình cảm.
Môn Tự nhiên và Xã hội ở trường Tiểu học Việt Nam 1. Nội dung, chương trình dạy học môn TN-XH ở Tiểu học Môn TN-XH có một vị trí rất quan trọng, nó là một môn học gần gũi vối các em học sinh. Học xong môn học này học sinh sẽ có một kiến thức cơ bản về con người và sức khoẻ, những hiện tượng cơ đơn giản trong tự nhiên và xã hội bước đầu biết tự chăm sóc bản thân và cộng đồng, có ý thức giữ gìn vệ sinh, yêu thiên nhiên, gia đình dòng họ. Môn TN-XH ở tiểu học được xây dựng theo quan điểm tích hợp.
Nội dung kiến thức được phát triển đồng tâm, hợp lý, theo nguyên tắc từ gần đến xa, dẫn dắt học sinh mở rộng vốn hiểu biết từ bản thân đến gia đình, trường học, từ Cuộc sống mới xã hội xung quanh đến thiên nhiên mở rộng, từ cây cối, con vật gần gũi đến các hiện tượng thời tiết thường gặp như nắng, mưa, nóng, rét, mặt trời, mặt trăng và các vì sao trên bầu trời. Sự sắp xếp các mạch kiến thức, kỹ năng trong mỗi chủ đề phát triển hợp lý, đảm bảo tính hiện đại, cập nhật, sát thực tiễn. 11 Cấu trúc nội dung chương trình môn TN-XH tiểu học được tóm tắt như sau: [8], [9], [10]. Cấu trúc nội dung chương trình môn TN-XH tiểu học Lớp Chủ đề Nội dung cơ bản của chủ đề Con người và - Cơ thể người và các giác quan (vai trò của các giác sức khỏe quan, sự lớn lên của cơ thể, ăn đủ, uống đủ).
- Gia đình: Các thành viên trong gia đình; nhà ở và các đồ dùng; vệ sinh nhà ở; an toàn khi ở nhà. - Lớp học: Các thành viên trong lớp học; các đồ Xã hội dùng trong lớp; vệ sinh lớp học. 1 - Thôn, xóm, xã hoặc đường, phố, phường nơi em sinh sống; phong cảnh; an toàn giao thông. - Thực vật và động vật : một số cây và con vật phổ biến.
Tự nhiên - Một số hiện tượng tự nhiên phổ biến về thời tiết như nắng nóng, mây mưa, gió rét. - Cơ quan vận động (cấu tạo, vai trò, phòng bệnh) Con người và - Cơ quan tiêu hoá. Vệ sinh cá nhân, ăn sạch, uống sức khỏe sạch. - Gia đình: Công việc của các thành viên; vệ sinh nhà ở.
2 Xã hội - Trường học: Các thành viên và công việc của họ; cơ sở vật chất nhà trường; giữ vệ sinh trường học; an toàn khi đến trường. - Thực vật và động vật: một số cây cối và một số Tự nhiên con vật sống ở trên mặt đất, dưới nước và trên không. 12 - Bầu trời ban ngày và ban đêm: Mặt trời; Mặt trăng và các vì sao. - Cơ quan hô hấp; cơ quan tuần hoàn; cơ quan bài tiết nước tiểu; cơ quan thần kinh: đều có nhận biết và Con người và chăm sóc, giữ vệ sinh.
sức khỏe - Cơ quan tiêu hoá. Vệ sinh cá nhân, ăn sạch, uống sạch.