đặt vấn đề giáo dục thẩm mĩ. Mĩ thuật là một môn học quan trọng trong quá trình giáo dục thẩm mĩ cho học sinh tại nhà trường. Các nhà quản lý giáo dục đã rất quan tâm đến việc tổ chức hoạt động dạy học môn Mĩ thuật, tổ chức các hoạt động giáo dục thẩm mĩ sao cho có hiệu quả nhất để đạt được mục tiêu đặt ra, nhằm hình thành và phát triển một cách toàn diện về nhân cách con người [36]. Như vậy, vấn đề quản lý hoạt động dạy học đã được đề cập tới trong nhiều công trình nghiên cứu ở nước ngoài.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều hướng vào mục đích nâng cao chất lượng dạy học. Theo đó, vấn đề phối hợp hoạt động dạy học trên lớp, phân hóa dạy học, cải tiến phương pháp 8 dạy học… được các tác giả quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, vấn đề quản lý hoạt động dạy học môn Mĩ thuật trong nhà trường còn ít được quan tâm, nghiên cứu. Chúng tôi chưa tìm thấy công trình nào nghiên cứu đầy đủ về vấn đề này.
Các nghiên cứu ở Việt Nam Trong quá trình xây dựng và phát triển của nền giáo dục Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giáo dục thẩm mĩ đã được quan tâm, đưa vào trong chương trình giáo dục ở trường phổ thông. Giáo dục thẩm mĩ cho thế hệ trẻ là một vấn đề rất cần thiết, luôn được Đảng, chính phủ đặc biệt quan tâm. Trong thư gửi học sinh nhân dịp khai trường ngày 24 tháng 10 năm 1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh mỹ dục là một trong bốn mục tiêu giáo dục cơ bản: Đối với các em, việc giáo dục gồm có: - Đức dục: Là yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, quý trọng của công. - Thể dục: Để làm cho thân thể khỏe mạnh, đồng thời cần giữ vệ sinh riêng và vệ sinh chung.
- Trí dục: Ôn lại những điều đã học, học thêm những tri thức mới. - Mỹ dục: Để phân biệt cái gì đẹp, cái gì không đẹp. Tiếp thu những quan điểm chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ở Việt Nam, giáo dục thẩm mĩ và quản lý các hoạt động giáo dục thẩm mĩ đã được quan tâm nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống trong tiến trình vận động và phát triển của nền giáo dục cách mạng, đặc biệt là từ sau cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai. Nhiều công trình, giáo trình, sách, bài báo đã đề cập đến vấn đề này.
Nhóm tác giả Lê Ngọc Trà, Lâm Vinh, Huỳnh Như Phương trong Giáo trình mỹ học đại cương cũng đã đặt ra “vấn đề giáo dục thẩm mĩ”. Tuy nhóm tác giả chỉ dừng lại ở “giáo dục thị hiếu thẩm mĩ - mục tiêu trực tiếp và năng động nhất” nhưng đã gợi mở cho nhà QLGD cách thức chọn lựa con đường khi lập kế hoạch giáo dục thẩm mĩ cho người học [31]. 9 Tác giả Vũ Minh Tâm với Mỹ học và giáo dục thẩm mĩ cuốn sách đã dành hai chương 11 và 12 để bàn về bản chất, nội dung và hình thức giáo dục thẩm mĩ, tuy nhiên vấn đề quản lý hoạt động giáo dục thẩm mĩ chưa được tác giả đặt ra một cách cụ thể, rõ ràng [27]. Tác giả Thái Duy Tuyên cũng đã bàn đến vấn đề giáo dục thẩm mĩ trong cuốn Giáo dục học hiện đại, những nội dung cơ bản [33].
Trên bình diện học thuật viết về vấn đề phương pháp dạy học môn mĩ thuật, tác giả Nguyễn Quốc Toản, Đàm Luyện viết về Đổi mới phương pháp dạy học mĩ thuật [19]. Một số luận văn thạc sĩ QLGD cũng đề cập đến vấn đề này như: Trần Thanh Bình (2005) Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy ở trường Đại học nghệ thuật; Hà Văn Chước (2008) Một số biện pháp quản lý cấp khoa nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ngành mĩ thuật ở trường Đại học nghệ thuật Huế… Có thể thấy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học nói chung, nhưng vấn đề về quản lý hoạt động dạy học môn Mĩ thuật theo định hướng đổi mới giáo dục còn ít được đề cập đến. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, các đề tài, bài viết đã đề cập đến những vấn đề cơ bản có tính chất lý luận về giáo dục thẩm mĩ hoặc chỉ nghiên cứu ở mức độ quy mô tổng thể, chưa có đề tài đi sâu vào nghiên cứu cụ thể về hoạt động dạy học Mĩ thuật, quản lý hoạt động dạy học môn Mĩ thuật ở trường Tiểu học. Thực tế hiện nay cho thấy còn có rất nhiều khó khăn và bất cập trong công tác quản lý hoạt động dạy học môn Mĩ thuật tại các trường Tiểu học.
Mặc dù đã có rất nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện, song vẫn còn khá nhiều vấn đề bất cập trong quá trình thực hiện. Đặc biệt, trong công tác kiểm tra, đánh giá, có nhiều vấn đề còn chung chung, chưa cụ thể dẫn đến khó khích lệ được tinh thần chủ động, tích cực, sáng tạo của người học cũng như nhiệt huyết của người dạy. 10 Xuất phát từ những trăn trở về thực trạng hiện nay trong công tác quản lý hoạt động dạy học môn Mĩ thuật ở trường Tiểu học,chúng tôi lựa chọn vấn đề “Quản lý hoạt động dạy học môn Mỹ thuật ở các trường Tiểu học huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên theo định hướng đổi mới giáo dục” làm đề tài nghiên cứu. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Quản lý, quản lý giáo dục - Quản lý: Quản lý là một trong những hoạt động cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống. Ở đâu con người tạo lập nên nhóm xã hội là ở đó cần đến quản lý, bất kể đó là nhóm không chính thức hay nhóm chính thức, là nhóm nhỏ hay nhóm lớn, là nhóm bạn bè, gia đình hay các đoàn thể, tổ chức xã hội, bất kể mục đích, nội dung hoạt động của nhóm đó là gì [7]. Theo Từ điển bách khoa: “Quản lý có chức năng của hệ thống, có tổ chức thuộc các giới khác nhau (Sinh học, kỹ thuật, xã hội) bảo đảm và giữ gìn một cơ cấu ổn định, duy trì sự hoạt động tối ưu và bảo đảm thực hiện những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó. Quản lý tồn tại trong mọi xã hội, ở bất cứ lĩnh vực nào, ở bất cứ giai đoạn phát triển nào” [34, tr.
Mác: “Bất cứ một lao động mang tính xã hội trực tiếp hay lao động cùng nhau, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần đến mức độ nhiều hay ít sự quản lý, nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ sở sản xuất, khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của nó. Một người chơi vĩ cầm riêng lẻ tự điều khiển mình, còn dàn nhạc cần người chỉ huy” [36, tr. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến” [22, tr. 11 Theo tác giả Trần Quốc Thành: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan” [29, tr.
Quản lý là một quá trình lựa chọn các tác động (cả chăm sóc và phát triển), nhà quản lý phải biết sắp xếp và thể hiện hợp lý các tác động lên đối tượng bị quản lý sao cho đảm bảo sự cân đối cả hai mặt ổn định và phát triển của bộ máy. Nếu chỉ có ổn định mà không phát triển thì tất yếu dẫn đến suy thoái và ngược lại nếu phát triển mà không ổn định thì sẽ có nguy cơ rối ren. Quản lý còn là việc đặt ra mục tiêu, lựa chọn các phương tiện, điều kiện và tác động vào từng thành tố của hệ thống bằng các phương pháp thích hợp nhằm đạt mục tiêu quản lý. Về phương diện nhà quản lý thì quản lý là sự tác động của nhà quản lý trong việc chỉ huy, điều khiển, tổ chức quản lý hướng vào các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của từng con người trong quá trình quản lý nhằm đưa đến sự phát triển, biến đổi quy luật khách quan, đạt mục tiêu quản lý.
Để quản lý tốt, người quản lý cần phải thực hiện các chức năng: Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm soát công việc. + Lập kế hoạch: Được hiểu là sự xếp đặt có tính toán trước một cách khoa học các mục tiêu, nội dung, trình tự tiến hành công việc của người quản lý trong khoảng thời gian định sẵn với sự phân công con người và bố trí vật lực hợp lý để công việc đó có thể tiến hành một cách chủ động, đạt hiệu quả cao nhất, tốn kém ít thời gian và công sức nhất. + Tổ chức: Là quá trình hình thành những cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức, thực hiện phân công lao động khoa học, phối hợp, điều phối các nguồn lực, vật lực một cách thích hợp để thực hiện thành công các kế hoạch nhằm đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. + Lãnh đạo, chỉ đạo: Là liên kết liên hệ với những người khác, chỉ dẫn người khác, động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt các mục tiêu của tổ chức.
12 + Kiểm tra, đánh giá: Là một chức năng quan trọng của quản lý, thông qua đó mỗi cá nhân, mỗi nhóm hay một tổ chức theo dõi, giám sát các thành viên hoạt động so sánh với mục tiêu đặt ra và tiến hành những sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết. Như vậy, có thể hiểu quản lý là quá trình tác động có định hướng, có tính chất lựa chọn các tác động phù hợp dựa trên các thông tin phù hợp về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm tạo cho đối tượng vừa vận hành trong thế ổn định, vừa tạo sự phát triển theo mục đích đề ra được thực hiện thông qua các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá. - Quản lý giáo dục: Giáo dục là một hiện tượng xã hội, nhà nước quản lý điều hành mọi hoạt động của giáo dục, thực hiện mục tiêu giáo dục mà nhà nước đặt ra. Giáo dục và quản lý giáo dục luôn tồn tại song song với nhau.