Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC THÔNG QUA CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. TỔNG QUAN NGHI N CỨU VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC THÔNG QUA CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA TR N THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM 1. Trên thế giới Giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trƣờng phổ thông đƣợc xem là vấn đề quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh. Giáo dục đạo đức còn có ý nghĩa lâu dài, đƣợc thực hiện thƣờng xuyên và trong mọi tình huống.
Trong nhà trƣờng THCS, để nâng cao chất lƣợng giáo dục toàn diện, giáo dục đạo đức phải đƣợc đặc biệt coi trọng. Tổng thống Thevdove Roosevelt đã từng nói: “Giáo dục một ngƣời về trí não mà không giáo dục về tâm hồn, đạo đức thì coi nhƣ giáo dục là một kẻ gây họa cho xã hội” [14]. Vì thế, đây là vấn đề đƣợc trong và ngoài nƣớc, ở cả phƣơng Đông lẫn phƣơng Tây đều rất quan tâm. Trong thời kỳ Cổ đại, Khổng Tử (551-479 TCN) rất coi trọng vai trò của giáo dục đạo đức và quan niệm có tính hệ thống về phƣơng pháp giáo dục cũng nhƣ về tâm lý giáo dục.
Hạt nhân tƣ tƣởng của Khổng Tử là truyền bá cho môn sinh chữ “Nhân” có gắn bó chặt chẽ với đạo đức và lòng yêu thƣơng con ngƣời. Theo Khổng Tử, giáo dục có nhiệm vụ đào tạo nên ngƣời nhân nghĩa, trung chính – mẫu nhân cách quân tử. Đó là mẫu ngƣời phải vƣơn tới để bảo vệ trật tự yên ổn, không rối ren, để “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Đối với ngƣời làm công tác giáo dục phải coi trọng giáo dục nhƣ một điều kiện đem lại sự thịnh trị cho đất nƣớc.
Khổng Tử cho rằng muốn có đạo phải trau dồi lòng “Nhân” và luôn đem lại hạnh phúc cho ngƣời nhƣ mình ƣớc muốn. Trong Luận ngữ, Khổng Tử có dạy: “Cái gì mình muốn dựng lên thì dựng cho ngƣời, cái gì mình muốn đạt thì đạt cho ngƣời” [28, tr. 8 Ở phƣơng Tây, trƣớc Mác, Ăngghen, những nhà triết học (kể cả duy tâm và duy vật) có quan niệm duy tâm khi xem xét vấn đề xã hội và đạo đức, họ không thấy đƣợc tính quy định của nhân tố kinh tế đối với sự vận động của xã hội nói chung và đạo đức nói riêng [15]. Nhà triết học Socrate (469-399 TCN) cho rằng cái gốc của đạo đức là tính thiện.
Bản tính con ngƣời vốn thiện, nếu tính thiện ấy đƣợc lan tỏa thì con ngƣời sẽ có hạnh phúc. Theo ông, muốn xác định đƣợc chuẩn mực đạo đức phải bằng nhận thức lý tính với phƣơng pháp khoa học [36]. Những nhà duy tâm khách quan tiêu biểu nhƣ Platon (427-347 TCN), sau là Hêghen (1770-1831) tuy không mƣợn tới thần linh, nhƣng lại nhờ tới “ý niệm” hoặc “ý niệm tuyệt đối”, về các lý giải nguồn gốc và bản chất đạo đức suy cho cùng, cũng tƣơng tự nhƣ vậy. Những nhà duy tâm chủ quan nhìn nhận đạo đức nhƣ là những năng lực “tiên thiên” của lý trí con ngƣời.
Ý chí đạo đức hay là “thiện ý” theo cách gọi của Cantơ, là một năng lực có tính nhất thành bất biến, có trƣớc kinh nghiệm, nghĩa là có trƣớc và độc lập với những hoạt động mang tính xã hội của con ngƣời [15]. Nhà triết học Hy Lạp cổ đại Aristoste (384-322 TCN) xem đạo đức là cái thiện của cá nhân, còn chính trị là cái thiện của xã hội [15]. Khác với tất cả các quan niệm trên, Mác, Ăngghen đã quan niệm đạo đức nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, là kết quả của sự phát triển lịch sử. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin, đạo đức sinh ra trƣớc hết là từ nhu cầu phối hợp hành động trong lao động sản xuất vật chất, trong đấu tranh xã hội, trong phân phối sản phẩm để con ngƣời tồn tại và phát triển.
Cùng với sự phát triển của sản xuất, các quan hệ xã hội, hệ thống các quan hệ đạo đức, ý thức đạo đức, hành vi đạo đức cũng theo đó mà ngày càng phát triển, ngày càng nâng cao, phong phú, đa dạng và phức tạp [15]. “Triết học về sự phát triển đạo đức” xuất bản năm 1971 của Kohlberg (1927 – 1987) là sự kế thừa những thành quả nghiên cứu của tâm lý học đạo đức và triết học đạo đức, đặc biệt là “Phán đoán đạo đức của trẻ em” (1932) của nhà tâm lý 9 Thụy Sĩ, Jean Piaget (1896 – 1980), triết học đạo đức của Immanuel Kant (1724 – 1804) và học thuyết về sự công bằng của John Rawls (1921). Kế thừa học thuyết của Piaget và kết quả thực nghiệm dựa trên phƣơng pháp phỏng vấn về một tình huống khó xử cụ thể, Kohlberg đã đƣa ra một học thuyết về sự phát triển nhận thức đạo đức của con ngƣời có tính cấu trúc từ thấp lên cao [18]. Quá trình đó chính là quá trình nhận thức đánh giá về sự công bằng.
Quá trình này diễn ra liên tục, tuân theo một trình tự nhất định, trong đó 3 cấp độ và 6 giai đoạn. Kế thừa tƣ tƣởng triết học đạo đức của Kant về tính hình thức của qui luật đạo đức và giá trị tuyệt đối của con ngƣời, Kohlberg đã nhấn mạnh những nguyên tắc của sự công bằng, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng phẩm giá con ngƣời, xem nó là nguyên tắc tối cao của quá trình nhận thức đạo đức: Mọi ngƣời đều bình đẳng và giá trị của mỗi ngƣời là giá trị của một cá thể đặc biêt (độc đáo). Mặc dù học thuyết trên của Kohlberg còn nhiều hạn chế khi nó xem nhẹ tính lịch sử, tính giai cấp của quá trình phát triển nhận thức đạo đức nhƣng việc nghiên cứu về nó giúp con ngƣời có thể hiểu thêm về những giá trị đạo đức văn minh nhân loại, góp phần làm giàu tinh thần đạo đức dân tộc [39]. Vấn đề giáo dục đạo đức cũng đƣợc nhiều quốc gia trên thế giới nhƣ Mỹ, Nhật Bản, Thái Lan, … đặc biệt quan tâm.
Tại Mỹ, mục tiêu giáo dục đạo đức của Mỹ là cung cấp cho học sinh những kiến thức và cơ hội thực hành, vận dụng để xây dựng đƣợc một nền tảng tính cách bền vững, hài hòa dựa trên ba mục tiêu lớn của cuộc đời; giáo dục học sinh trở thành những công dân có trách nhiệm, hiểu biết và có thể tham gia hiệu quả vào đời sống chính trị, xã hội của đất nƣớc. Nội dung giáo dục đạo đức của Mỹ gồm 6 trụ cột là sự tin cậy, tôn trọng, tinh thần trách nhiệm, công bằng, quan tâm, bổn phận công dân. Phƣơng pháp giáo dục đạo đức ở Mỹ là nêu gƣơng, giải thích, cổ vũ, khích lệ, bảo đảm môi trƣờng đạo đức, trải nghiệm và kỳ vọng vào sự ƣu tú [17]. Tổ chức Arigatou Internatinal (Tất cả vì trẻ em) tại Mỹ có chƣơng trình SEE (The School for Ethical Education) dạy các chiến lƣợc để đƣa đạo đức vào trong hành động cho việc hình thành tính tích cực cho học sinh.
Giáo dục đạo đức học sinh bằng cách cho trẻ phát huy các giá trị đạo đức trong khuôn khổ các quyền 10 trẻ em đƣợc học nhƣ đã nêu trong Công ƣớc Liên Hiệp Quốc về Quyền trẻ em. Nó sử dụng một cách tiếp cận sáng tạo để học tập liên tôn giáo và liên văn hóa trong một chƣơng trình giáo dục chất lƣợng nhằm tạo ra một thế giới công bằng hơn, hòa bình và nhân đạo. Mục đích của chƣơng trình là giúp trẻ em hiểu và tôn trọng những ngƣời đến từ các nền văn hóa và tín ngƣỡng khác, suy nghĩ chín chắn và sử dụng những lựa chọn thay thế phi bạo lực để sống hòa bình với nhau [12]. Tại Nhật Bản, giáo dục đạo đức tập trung vào ba điểm: lòng tôn trọng cá nhân, quan hệ cá nhân và cộng đồng.
Khác với nhiều nƣớc thực hiện giáo dục đạo đức chủ yếu thông qua các môn học trong chƣơng trình giáo dục phổ thông, Nhật Bản thực hiện giáo dục đạo đức qua toàn thể các môn học, qua các hoạt động đặc biệt và qua sinh hoạt hằng ngày [17]. Tại Thái Lan, mục tiêu giáo dục đạo đức của Thái Lan là giúp học sinh nhận thức đƣợc những điều tốt, biết quan tâm đến điều tốt và làm điều tốt. Các nội dung cụ thể là đáng tin cậy, trung thực và nói sự thật; tôn trọng, lịch sự và nhã nhặn; trách nhiệm, tính công bằng; sự chu đáo, tốt bụng, lòng thƣơng; ý thức công dân. Phƣơng pháp giáo dục chủ yếu ở Thái Lan là phƣơng pháp học tập hợp tác, phƣơng pháp giáo dục truyền thống, phƣơng pháp thảo luận nhóm, phƣơng pháp sắm vai, phƣơng pháp học tập qua kinh nghiệm [17].
Như vậy, giáo dục đạo đức cho học sinh của 3 nƣớc Mỹ, Thái Lan, Nhật Bản cho thấy dƣới những góc độ khác nhau ngƣời ta đã thể hiện rõ đặc thù về lĩnh vực giáo dục này. Mỗi nƣớc tùy thuộc vào tình hình kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị của mình mà tiến hành công tác giáo dục đạo đức học sinh. Điều đó đƣợc thể hiện trong mục tiêu, nội dung, cách thức giáo dục đạo đức học sinh của các nƣớc. Giáo dục đạo đức học sinh của 3 nƣớc nói trên rút ra đƣợc những điểm giống nhau và những điểm khác nhau.
Mỗi nƣớc với những đặc điểm văn hóa, xã hội của mình đã thể hiện những nét riêng trong lĩnh vực giáo dục đạo đức học sinh. Tại Việt Nam Việt Nam là đất nƣớc có truyền thống dân tộc với nhiều giá trị đạo đức tốt đẹp đƣợc thể hiện qua những câu ca dao, tục ngữ “Bầu ơi thƣơng lấy bí cùng, tuy rằng 11 khác giống nhƣng chung một giàn”, “Lá lành đùm lá rách”, “Tốt gỗ hơn tốt nƣớc sơn”, “Cái nết đánh chết cái đẹp”, “Tiên học lễ, hậu học văn”,… Các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc đƣợc lƣu vào sử sách và đó cũng là nội dung giảng dạy trong các trƣờng học từ trƣớc cho đến nay. Ở nƣớc ta, có nhiều sách dạy về luân lý, dạy làm ngƣời, dạy giao tiếp. Một số tác phẩm dùng làm sách giáo khoa, sách dùng cho ngƣời dạy, sách đọc ở nhà, … Trong tác phẩm “Khổng học đăng” Sào Nam Phan Bội Châu đã đúc kết những tinh hoa của Khổng học, phát huy các phẩm chất cao cả của con ngƣời nhằm phục vụ bản thân và xã hội.
Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng, liêm là những đức tính cần phải đƣợc mọi ngƣời trau dồi, học tập, nhất là thế hệ thanh niên [33].