phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của đề tài nghiên cứu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc vận dụng phƣơng pháp rèn luyện trong dạy học môn Đạo đức lớp 4. Chƣơng 2: Vận dụng phƣơng pháp rèn luyện trong dạy học môn Đạo đức lớp 4. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 5 NỘI DUNG CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƢƠNG PHÁP RÈN LUYỆN TRONG DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC LỚP 4 1.
Khái quát về phƣơng pháp rèn luyện 1. Phương pháp rèn luyện 1. Khái niệm rèn luyện Theo định nghĩa của từ điển Lạc Việt có nhiều khái niệm khác nhau về “rèn luyện”: - Rèn luyện là dạy và tập nhiều để thành thạo cả về đức tính tốt lẫn kỹ năng - Rèn luyện là một động từ, chỉ sự ý thức luyện tập một cách thƣờng xuyên để đạt tới những phẩm chất hay trình độ ở một mức nào đó. - Hay rèn luyện là luyện tập kiên trì để có đƣợc trình độ vững vàng, thông thạo, rèn luyện cả đạo đức lẫn thân thể.
Tóm lại, rèn luyện là một chuỗi các hoạt động cần đƣợc luyện tập một cách thƣờng xuyên để hình thành thói quen tốt, những phẩm chất hay trình độ ở một mức độ nào đó. Phương pháp rèn luyện (PPRL) Phƣơng pháp rèn luyện là phƣơng pháp tổ chức cho ngƣời đƣợc giáo dục thể nghiệm ý thức, tình cảm của mình về các chuẩn mực xã hội trong các tình huống đa dạng của cuộc sống qua đó hình thành và củng cố đƣợc những hành vi phù hợp với các chuẩn mực xã hội đó đƣợc quy định. [11/70] Theo tác giả Nguyễn Hữu Hợp: Rèn luyện là phƣơng pháp tổ chức cho học sinh thực hiện những hành vi, công việc trong cuộc sống hằng ngày theo bài học đạo đức. Tác dụng của phương pháp rèn luyện - Trong dạy học môn Đạo đức ở Tiểu học nói chung và Đạo đức lớp 4 nói riêng, phƣơng pháp rèn luyện là một trong những phƣơng pháp dạy học góp phần quan trọng hình thành nên các hành vi và các thói quen tốt trong cuộc sống.
Từ những bài học với lƣợng kiến thức đƣợc giáo viên cung cấp, truyền tải sau tiết học các em sẽ có điều kiện và cơ hội để vận dụng vào thực tế cuộc sống của mình khi đƣợc giao nhiệm vụ rèn luyện về nhà. Đó là cơ sở giúp các em rèn luyện một 6 cách liên tục, thƣờng xuyên những hành vi, cách cƣ xử, lời nói để tạo tạo quen tốt phù hợp với chuẩn mực đạo đức của xã hội. - Phát huy đƣợc tính tích cực, tự giác của học sinh khi các em làm quen với cách học mới; cách làm việc, rèn luyện có kế hoạch, có mục đích rõ ràng; các nhiệm vụ rèn luyện bắt buộc các em phải tự lực thực hiện thì mới có thể hoàn thành vào phiếu rèn luyện và báo cáo đúng thời hạn. Học sinh phải tự giải quyết nhiệm vụ học tập, biết tự phân công và nhắc nhở, hỗ trợ lẫn nhau giƣa các thành viên khi làm nhóm.
- Bên cạnh đó, rèn luyện còn giúp học sinh có điều kiện trao đổi, rèn luyện, tƣơng tác với môi trƣờng thực xung quanh cuộc sống của các em. Qua đó giúp phát triển năng lực giao tiếp, biết lắng nghe, biết quan sát, phân tích và ghi nhận những điều bổ ích, hiểu thực tế cuộc sống để có những điều chỉnh thay đổi phù hợp ngay từ khi còn nhỏ. Các bước tiến hành Theo tác giả Nguyễn Hữu Hợp, phƣơng pháp rèn luyện đƣợc tiến hành theo các bƣớc sau: 1. Bước chuẩn bị Trong quá trình chuẩn bị, giáo viên cần: - Xác định nội dung rèn luyện: Căn cứ vào tính chất bài đạo đức, mục tiêu của bài, khả năng của học sinh, điều kiện thực tế xung quanh…để xác định những hành vi, công việc mà các em cần thự hiện cho phù hợp.
- Dự kiến kết quả, sản phẩm hoạt động của học sinh qua rèn luyện, nhƣ kết quả của buổi lao động, những loại phiếu mà các em cần hình thành… - Dự kiến thời gian tổ chức: Có những loại công việc do giáo viên tổ chức cho các em không thƣờng xuyên (có khi chỉ một lần, sau khi học xong bài đạo đức thì không đƣợc tổ chức lại một lần nữa) và những loại công việc đƣợc học sinh tự giác thực hiện một cách thƣờng xuyên (những công việc này có thể đƣợc học sinh thực hiện hằng ngày). - Chuẩn bị phiếu rèn luyện: Cần có phiếu rèn luyện đƣợc thiết kế thích hợp nhằm giúp học sinh ghi lại quá trình, công việc kết quả hoạt động để sau này nộp lại cho giáo viên hoặc trình bày trƣớc lớp. 7 - Ngoài ra, giáo viên cần dự kiến địa điểm tiến hành; việc phân công học sinh theo tổ, nhóm, các nhân; cách đánh giá; việc phối hợp các lực lƣợng giáo dục… 1. Bước giao nhiệm vụ Bƣớc này thƣờng đƣợc thực hiện ở phần hƣớng dẫn thực hành bài học (cuối tiết 1 hay cuối tiết 2 – nếu công việc đƣợc tiến hành vào thời gian ngoài giờ lên lớp).
Khi đó, giáo viên giúp học sinh nắm vững: - Nội dung công việc cần thực hiện và những kết quả cần đạt; - Cách tiến hành, thực hiện công việc; cách ghi phiếu rèn luyện; - Thời gian; - Địa điểm; - Dự kiến cách đánh giá (học sinh nộp phiếu rèn luyện hay báo cáo trƣớc lớp)… Sau đó, giáo viên phát phiếu rèn luyện cho các em và hƣớng dẫn học sinh ghi lại quá trình thực hiện công việc vào phiếu rèn luyện (và phiếu báo cáo nếu cần). Bước học sinh thực hiện nhiệm vụ Học sinh thực hiện những hành vi, công việc đƣợc giao chủ yếu vào thời gian ngoài giờ học - ở gia đình, nhà trƣờng, xã hội (tùy hành vi, công việc cụ thể). Các em ghi lại những công việc mình làm vào phiếu rèn luyện, hoàn thành báo cáo (nếu cần) để nộp lại hay báo cáo trƣớc lớp. Một số yêu cầu khi vận dụng phương pháp rèn luyện trong dạy học Đạo đức Khi vận dụng phƣơng pháp rèn luyện trong dạy học Đạo đức nói chung và dạy học Đạo đức lớp 4 nói riêng cần tuân thủ theo một số yêu cầu sau: - Nội dung rèn luyện phải phù hợp với bài đạo đức, với đặc điểm tâm sinh lí và khả năng của các em, với điều kiện hoàn cảnh thực tế cuộc sống xung quanh các em và những điều kiện ở địa phƣơng.
- Công việc phải mang tính khả thi và tính giáo dục cao. - Cần tổ chức rèn luyện cho học sinh một cách thƣờng xuyên, có hệ thống. Có nhƣ vậy thì mới hình thành đƣợc ở học sinh kĩ năng tham gia, tổ chức hoạt động thực tiễn, tình cảm đạo đức bền vững, HS có thói quen ứng xử phù hợp với các mối quan hệ theo chuẩn mực đạo đức. - Cần có những phƣơng tiện cần thiết cho hoạt động của học sinh, trong đó phiếu rèn luyện đóng vai trò quan trọng.
8 - Cần đề cao vai trò chủ thể tích cực, nâng cao ý thức tự giác, tự quản của học sinh trong quá trình tự rèn luyện của mình. - Cần kiểm tra việc rèn luyện của học sinh, trong đó có sự phối hợp với gia đình, các tổ chức xã hội, ban tự quản của học sinh tiểu học. Việc đánh giá phải khác quan, kịp thời, công bằng, bằng những cách nhƣ tổ chức cho các em báo cáo kết quả rèn luyện trƣớc lớp, ghi nhận xét vào phiếu rèn luyện… - Tránh những hiện tƣợng nhƣ: ngại khó, thiếu tin tƣởng vào khả năng của HS. Ưu điểm và hạn chế của phương pháp rèn luyện 1.
Ưu điểm - Là phƣơng pháp dạy học tối ƣu đem lại hiệu quả cao khi vận dụng vào quá trình hình thành và rèn luyện đạo đức cho HS. Hầu hết các bài học/nội dung nào cũng có khả năng vận dụng phƣơng pháp rèn luyện, đƣợc dùng thƣờng xuyên để củng cố tri thức. - Giúp HS có điều kiện, cơ hội để thực hành, rèn luyện thói quen và hành vi sau mỗi bài học; rèn luyện kỹ năng, thái độ nhƣ: khả năng lựa chọn cách giải quyết vấn đề; nâng cao năng lực giao tiếp; tự đánh giá hành vi của bản thân và ngƣời khác; mạnh dạn bày tỏ, đóng góp ý kiến, rèn kỹ năng trình bày kết quả trƣớc lớp. - Học sinh học lý thuyết song song với kĩ năng thực hành, liên hệ thực tế từ đó các em biết cách lựa chọn hành vi nên làm và không nên làm trong các tình huống cụ thể giúp củng cố kiến thức đã học; giúp học sinh hiểu kỹ, hiểu sâu nội dung bài học và khắc sâu kiến thức, hình thành thói quen đạo đức trong cuộc sống.
- Hình thành cho học sinh kĩ năng hoạt động thực tế và tìm tòi các phƣơng án tối ƣu để giải quyết các loại bài tập. - Tạo cảm giác hứng thú, tích cực thực hiện các nhiệm vụ đƣợc giao nhờ các phiếu rèn luyện với nội dung và hình thức mới lạ; kích thích sự học hỏi, tìm tòi. - Trong quá trình rèn luyện, củng cố hành vi trách nhiệm của các em cũng đƣợc tăng lên, nhất là khi cá nhân thực hiện; đồng thời rèn tính tự định hƣớng và tự điều chỉnh cho học sinh. - Giáo viên có thêm cơ hội để quan sát học sinh; hỗ trợ, giúp đỡ hoặc điều chỉnh kịp thời giúp các em có cách ứng xử và hành vi đạo đức đúng đắn; đo 9 lƣờng và đánh giá mức độ hiểu bài, nhận thức, khả năng áp dụng tri thức; tạo điều kiện để đánh giá chính xác từ chi tiết đến tổng thể.
Hạn chế - Tốn nhiều thời gian cho các hoạt động rèn luyện: nhiều hoạt động cần thời gian dài (2 tuần, 3 tuần, 1 tháng…) mới thu đƣợc kết quả rèn luyện; việc kiểm tra, đánh giá quá trình rèn luyện của các em cũng rất mất thời gian ảnh hƣởng đến tiết học hay tiết sinh hoạt lớp. - Giáo viên cần nhiều thời gian, trí tuệ cho việc thiết kế phiếu rèn luyện, giao nhiệm vụ và kiểm tra kết quả sau quá trình thực hiện của học sinh. - Giáo viên thƣờng gặp khó khăn khi lựa chọn nội dung, nhiệm vụ để thiết kế phiếu rèn luyện nên thƣờng dẫn đến việc yêu cầu quá sức hay các hình thức, nội dung lặp đi lặp lại làm cho học sinh có cảm giác nhàm chán, dẫn đến kết quả của việc luyện tập không nhƣ mong đợi.