phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng, 8 tiết. e 17 Chƣơng 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1 1 CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG - KHÁI NIỆM, NỘI DUNG 1. Khái niệm chính sách giảm nghèo bền vững Trƣớc khi tìm hiểu khái niệm chính sách giảm nghèo bền vững ta có thể nhận diện một số khái niệm liên quan đến nghèo: Nghèo: Là tình trạng một số bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con ngƣời, mà những nhu cầu này đã đƣợc xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển và phong tục tập quán của từng địa phƣơng. Từ khái niệm chung này, khi nghiên cứu thực trạng nghèo đói, ngƣời ta đã đƣa ra hai khái niệm khác, đó là nghèo tuyệt đối và nghèo tƣơng đối.
Nghèo tuyệt đối: Là sự thiếu hụt so với mức sống (những nhu cầu) tối thiểu. Nghèo tuyệt đối thƣờng đƣợc tính trên những nhu cầu dinh dƣỡng và một số hàng hóa khác. Nghèo tương đối: Là sự thiếu hụt của các cá nhân/hộ gia đình so với mức sống trung bình đạt đƣợc. Đói: Là tình trạng của một bộ phận dân cƣ nghèo có mức sống dƣới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống.
Hay nói một cách khác, đói là một nấc thang thấp nhất của nghèo. Nghèo đói kinh niên: Là bộ phận dân cƣ nghèo đói nhiều năm liền cho đến thời điểm đang xét. Nghèo đói cấp tính: Là bộ phận dân cƣ rơi vào tình trạng nghèo đói đột xuất vì nhiều nguyên nhân nhƣ phá sản và các rủi ro khác, tại thời điểm đang xét. Vùng nghèo, vệt nghèo: Là nơi có tỷ lệ nghèo cao hơn nhiều và mức e 18 sống dân cƣ thấp hơn nhiều so với mức sống chung của cả nƣớc, trong cùng một thời điểm.
Quốc gia nghèo: Là một đất nƣớc có bình quân thu nhập rất thấp, nguồn lực (tài nguyên) cực kỳ hạn hẹp (về vật chất, lao động, tài chính) cơ sở hạ tầng môi trƣờng yếu kém, có vị trí không thuận lợi trong giao lƣu với cộng đồng quốc tế. Chuẩn nghèo: (hay còn gọi là đƣờng nghèo, ngƣỡng nghèo, hoặc tiêu chí nghèo): Là công cụ để phân biệt ngƣời nghèo và ngƣời không nghèo, đồng thời là công cụ để đo lƣờng và giám sát nghèo đói. Hầu hết chu n nghèo dựa vào thu nhập hoặc chi tiêu. Những ngƣời đƣợc coi là nghèo khi mức sống của họ đo qua thu nhập (hoặc chi tiêu) thấp hơn chu n nghèo.
Những ngƣời có mức thu nhập hoặc chi tiêu ở trên chu n này là ngƣời không nghèo hoặc đã vƣợt nghèo, thoát nghèo. Tiêu chí xác định chuẩn nghèo của Việt Nam1: Việt Nam đã nhiều lần ban hành quy định xác định chu n nghèo qua các thời kỳ khác nhau (Phụ lục 1). Hiện nay chúng ta đang sử dụng “Chuẩn nghèo lần 7”, Ban hành ngày ngày 19 tháng 11 năm 2015 theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ. Theo đó hộ nghèo ở nông thôn có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lƣờng mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
Đối với hộ nghèo ở thành thị có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt tiếp cận các dịch xã hội cơ bản trở lên. Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có thu nhập bình quan đầu ngƣời/tháng trên 1 Nghị định số 07/2021/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2021 quy định về chu n nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025.000 đồng và thiếu hụt 03 chỉ số đo lƣờng mức dộ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản; hộ cận nghèo khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt dƣới 03 chỉ số đo lƣờng mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Cận nghèo: Là tình trạng một hộ hay ngƣời không nghèo nhƣng có mức thu nhập bình quân đầu ngƣời gần (cận) với chu n nghèo. Thoát nghèo: Là tình trạng một hộ trƣớc thời điểm điều tra/rà soát là nghèo nhƣng tại thời điểm điều tra/rà soát đã có mức thu nhập bình quân cao hơn chu n nghèo.
Nhƣ vậy, khi mức thu nhập bình quân đầu ngƣời của hộ cao hơn chu n nghèo thì hộ đó đƣợc coi là thoát nghèo. Tái nghèo: Là tình trạng một hộ gia đình hay ngƣời đã thoát nghèo nhƣng lại rơi vào nghèo sau một thời gian nhất định, thƣờng là dƣới 3 năm; hay những hộ đã thoát nghèo trong quá trình phát triển nhƣng sau do nhiều lý do khách quan hay chủ quan lại rơi vào tình trạng nghèo. Nghèo mới: Là tình trạng hộ hay ngƣời đƣợc xác định là nghèo lần đầu hoặc không phải là lần đầu nhƣng đã có thời gian thoát nghèo trƣớc đó từ 3 năm trở lên. Khái niệm chính sách: Có nhiều khái niệm khác nhau về chính sách, tuy nhiên trong khuôn khổ nghiên cứu này thì chính sách là những quyết định, quy định của nhà nƣớc (tức là các cấp chính quyền từ trung ƣơng đến địa phƣơng) đƣợc cụ thể hoá thành các chƣơng trình, dự án cùng các nguồn lực, vật lực, các thể thức, quy trình hay cơ chế thực hiện nhằm tác động vào đối tƣợng có liên quan, thay đổi trạng thái của đối tƣợng theo hƣớng mà nhà nƣớc mong muốn.
Chính sách xóa đói giảm nghèo: Từ cách tiếp cận khái niệm chính sách trên có thể hiểu chính sách xóa đói giảm nghèo là những quyết định, quy định e 20 của nhà nƣớc đƣợc cụ thể hóa trong các chƣơng trình, dự án, cùng với nguồn lực, vật lực, các thể thức, quy trình hay cơ chế thực hiện nhằm xóa đói giảm nghèo cho ngƣời nghèo, hộ nghèo. Khái niệm giảm nghèo bền vững: Giảm nghèo bền vững là tình trạng dân cƣ đạt đƣợc mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập cao hơn chu n (nghèo) và duy trì đƣợc mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập trên mức chu n đó ngay cả khi gặp phải các cú sốc hay rủi ro; giảm nghèo bền vững có thể đƣợc hiểu với nghĩa đơn giản là thoát nghèo bền vững hay không tái nghèo. Khái niệm chính sách giảm nghèo bền vững: Chính sách giảm nghèo bền vững là tổng thể các quyết định, chƣơng trình, dự án do nhà nƣớc ban hành đƣợc thực hiện trong những giai đoạn nhất định với những giải pháp, mục tiêu cụ thể nhằm cải thiện, thay đổi đời sống vật chất, tinh thần của ngƣời nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo giữa các nhóm dân cƣ, các khu vực, vùng miền, để đƣa ngƣời nghèo, xã nghèo, huyện nghèo thoát nghèo một cách vững ch c, không còn tái nghèo, ngƣời nghèo tự vƣơn lên làm giàu chính đáng. Sự cần thiết của chính sách giảm nghèo bền vững Nhƣ chúng ta đã biết đói nghèo không chỉ là vấn đề kinh tế đơn thuần, mà còn là vấn đề chính trị - xã hội và là một trong những nội dung cơ bản trong phát triển kinh tế bền vững ở mỗi địa phƣơng, mỗi quốc gia và trên toàn thế giới.
Giải quyết tình trạng đói nghèo là một trong những vấn đề xã hội vừa cơ bản, lâu dài, vừa là nhiệm vụ cấp bách nhằm bảo đảm phát triển kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội. Xét tình hình thực tế, khi nƣớc ta bƣớc vào thời kỳ đổi mới thì sự phân hóa giàu nghèo diễn ra rất nhanh nếu không tích cực xoá đói giảm nghèo và giải quyết tốt các vấn đề xã hội khác thì khó có thể đạt đƣợc mục tiêu xây dựng một cuộc sống ấm no về vật chất, tốt đẹp về tinh thần, vừa phát huy e 21 đƣợc truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu đƣợc yếu tố lành mạnh và tiến bộ của thời đại. Do đó trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 1996 – 2000 Nhà nƣớc đã xây dựng đƣợc các chƣơng trình mục tiêu quốc gia, trong đó có chƣơng trình xoá đói giảm nghèo quốc gia. Xoá đói giảm nghèo không chỉ là vấn đề kinh tế đơn thuần, mà nó còn là vấn đề kinh tế - xã hội quan trọng, do đó phải có sự chỉ đạo thống nhất giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội.
Xuất phát từ điều kiện thực tế nƣớc ta hiện nay, xoá đói giảm nghèo về kinh tế là điều kiện tiên quyết để xoá đói giảm nghèo về văn hoá, xã hội. Thực hiện thành công chính sách xoá đói giảm nghèo không chỉ đem lại ý nghĩa về mặt kinh tế là tạo thêm thu nhập chính đáng cho ngƣời nông dân ổn định cuộc sống lâu dài, mà xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế nông thôn còn là nền tảng, là cơ sở để cho sự tăng trƣởng và phát triển một nền kinh tế bền vững, góp phần vào sự nghiệp đổi mới đất nƣớc. Hơn thế nữa nó còn có ý nghĩa to lớn về mặt chính trị xã hội. Xoá đói giảm nghèo nhằm nâng cao trình độ dân trí, chăm sóc tốt sức khoẻ nhân dân, giúp họ có thể tự mình vƣơn lên trong cuộc sống, sớm hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng, xây dựng đƣợc các mối quan hệ xã hội lành mạnh, giảm đƣợc khoảng trống ngăn cách giữa ngƣời giàu với ngƣời nghèo, ổn định tinh thần, có niềm tin vào bản thân, từ đó có lòng tin vào đƣờng lối và chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc.
Đồng thời hạn chế và xoá bỏ đƣợc các tệ nạn xã hội khác, bảo vệ môi trƣờng sinh thái. Ngoài ra, có thể nói rằng không giải quyết thành công các nhiệm vụ và yêu cầu xoá đói giảm nghèo thì sẽ không chủ động giải quyết đƣợc xu hƣớng gia tăng phân hoá giàu nghèo, có nguy cơ đ y tới phân hoá giai cấp với hậu quả là sự bần cùng hoá và do vậy sẽ đe dọa tình hình ổn định chính trị và xã hội làm chệch hƣớng XHCN của sự phát triển kinh tế - xã hội. Không giải quyết thành công các chƣơng trình xoá đói giảm nghèo sẽ không thể thực hiện e 22 đƣợc công bằng xã hội và sự lành mạnh xã hội nói chung. Nhƣ thế mục tiêu phát triển và phát triển bền vững sẽ không thể thực hiện đƣợc.