Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁM ĐỐC THẨM TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA GIÁM ĐỐC THẨM TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Khái niệm giám đốc thẩm dân sự Bản án, quyết định dân sự của Tòa án là sự phản ánh kết quả giải quyết vụ, việc dân sự cụ thể. Bản án, quyết định của Tòa án được ban hành với hình thức theo quy định tại BLTTDS.
Đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm sau khi được ban hành thì có một thời hạn nhất định để đương sự thực hiện quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) thực hiện quyền kháng nghị. Trong trường hợp hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật mà đương sự không kháng cáo, VKSND kháng nghị thì bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm mới có hiệu lực pháp luật. Do đó, bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án là những bản án, quyết định không có kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật. Đối với những bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Như vậy, bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật bao gồm: Bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn pháp luật quy định; Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm; Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm. Về nguyên tắc bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án phải được thi hành. Tuy nhiên, trong thực tế có những bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực nhưng có những sai phạm về nội dung, về áp dụng pháp luật hoặc về tố tụng.
Vì vậy, để khắc phục tình trạng đó trong lĩnh vực giải 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyết án dân sự, kinh tế, lao động, pháp luật tố tụng dân sự đã quy định một thủ tục đặc biệt để kiểm soát, xem xét lại những bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật đó. Thủ tục xét lại bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật trong trường hợp này gọi là giám đốc thẩm dân sự. Căn cứ vào mục đích của việc xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm khi nghiên cứu đề tài luận án tiến sĩ "Thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trong tố tụng kinh tế, dân sự ở Việt Nam", tác giả Đào Xuân Tiến cho rằng: Thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là thủ tục đặc biệt nhằm kiểm tra, xem xét, xác định bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được xét xử đúng pháp luật và xét lại đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng có sai lầm nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới làm thay đổi nội dung hoặc kết quả giải quyết vụ án [28, tr. Tác giả cũng cho rằng, việc đưa ra khái niệm này còn nhằm phân biệt với thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật là thủ tục phúc thẩm.
Trong các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý đã được công bố các tác giả của các công trình khoa học này đã đưa ra các khái niệm về việc xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nói chung và khái niệm về giám đốc thẩm nói riêng dựa trên nhiều góc độ tiếp cận, nhìn nhận khác nhau. Căn cứ vào đối tượng, căn cứ của việc xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội đã đưa ra khái niệm như sau: "Giám đốc thẩm dân sự là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án bị kháng nghị do phát hiện có sai lầm, vi phạm pháp luật trong giải quyết vụ án" [43, tr. Tương tự, Giáo trình Luật tố tụng dân sự của Học viện Tư pháp cũng đưa ra khái niệm: "Giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án" [13, tr. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khác với các cách tiếp cận trên, trong luận án "Giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn", tác giả Mai Ngọc Dương lại có các cách tiếp cận, nhìn nhận ở khía cạnh khác về giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự.
Trong đó, với cách tiếp cận là một chế định pháp luật thì giám đốc thẩm là một chế định pháp luật điều chỉnh những quan hệ phát sinh trong quá trình xét lại những bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật khi có vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự. Với cách tiếp cận là một quan hệ pháp luật dân sự, thành phần quan hệ pháp luật trong giám đốc thẩm dân sự bao gồm: Chủ thể, khách thể và nội dung của quan hệ pháp luật trong giám đốc thẩm dân sự, nội dung của quan hệ trong giám đốc thẩm dân sự. Trong đó chủ thể của quan hệ pháp luật trong giám đốc thẩm dân sự là những cá nhân, tổ chức tham gia vào quan hệ pháp luật trong giám đốc thẩm dân sự, thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định và được đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế nhà nước. Khách thể của quan hệ pháp luật trong giám đốc thẩm dân sự là việc giải quyết để làm sáng tỏ tính hợp pháp và tính có căn cứ của những bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Nội dung của quan hệ pháp luật trong giám đốc thẩm dân sự bao gồm quyền chủ quan và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật trong giám đốc thẩm dân sự [5, tr. Từ nội dung phân tích trên có thể đưa ra kết luận như sau: Giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự là thủ tục tố tụng đặc biệt của tố tụng dân sự, theo đó Hội đồng giám đốc thẩm xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trên cơ sở kháng nghị của người có thẩm quyền nhằm xác định những sai lầm, vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Như vậy, từ nhiều góc độ tiếp cận có nhiều quan điểm khác nhau về giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự. Tuy nhiên, để nhận diện đầy đủ bản chất của giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự cần làm rõ về đặc điểm của giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự.
14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đặc điểm của giám đốc thẩm Đặc điểm thứ nhất: Đối tượng của giám đốc thẩm là những bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Những bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần phải được thi hành để đảm bảo được quyền lợi của đương sự và đảm bảo cho việc thực thi công lý. Tuy nhiên, trong một số trường hợp thì bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng không đúng với bản chất sự việc hoặc nếu có thi hành thì gây tổn hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.
Do vậy, một trong những thủ tục để xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật đó là giám đốc thẩm. Đối tượng của giám đốc thẩm dân sự là những bản án, quyết định giải quyết vụ án dân sự đã có hiệu lực pháp luật bị phát hiện có sai lầm, vi phạm pháp luật trong việc giải quyết vụ án dân sự. Các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật đó có thể là: - Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; - Bản án, quyết định của Tòa án các cấp; - Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án. Nói chung các bản án, quyết định giải quyết các vụ việc dân sự đã có hiệu lực pháp luật đều có thể là đối tượng để xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm dân sự.
Đây là điểm hoàn toàn khác với việc giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, đối tượng cần xem xét của Tòa án cấp phúc thẩm là các bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật và có kháng cáo, kháng nghị. Đối với thủ tục xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm xét xử trên cơ sở kháng cáo của đương sự hoặc kháng nghị của người có thẩm quyền kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án về mặt nội dung vụ, việc dân sự, đồng thời xem xét cả về thủ tục tố tụng thông qua hoạt động xét xử. Mặc dù cùng đối tượng xem xét cùng là bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực nhưng 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giữa thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm có sự khác biệt về căn cứ xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Đặc điểm thứ hai: Hội đồng giám đốc thẩm xác định những sai lầm, vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong bản án, quyết định của Tòa án.
Những sai lầm, vi phạm nghiêm trọng trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực có thể là những sai lầm về nội dung hoặc về thủ tục tố tụng. Sai lầm, vi phạm nghiêm trọng trong bản án cũng chính là các căn cứ mà người có thẩm quyền kháng nghị, trong đó bao gồm những sai lầm như: Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án, hoặc những vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng và có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật. Kết luận của Tòa án trong bản án, quyết định không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án cũng có nghĩa là Tòa án giải quyết vụ án không đúng với bản chất sự việc.