Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁM ĐỐC THẨM 1. KHÁI NIỆM GIÁM ĐỐC THẨM TIEU LUAN MOI download : 5skknchat@gmail.com Trong quá trình giải quyết vụ án các cơ quan tiến hành tố tụng có nhiệm vụ áp dụng mọi biện pháp của luật tố tụng hình sự qui định nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Tuy nhiên, trên thực tế không phải tất cả các bản án đã có hiệu lực pháp luật thì vụ án đều đã được giải quyết khách quan, công bằng, đúng người, đúng tội mà có một số trường hợp vẫn còn phát hiện ra các tình tiết mới làm thay đổi tính chất của vụ án hoặc phát hiện ra những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật nên việc khắc phục những sai lầm, khiếm khuyết của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án là việc làm cần thiết mang tính tất yếu được qui định trong Luật tố tụng hình sự. Sai lầm của bản án hoặc quyết định của Toà án được thể hiện theo hai hướng: để lọt tội phạm (là bỏ lọt hành vi phạm tội và kẻ phạm tội) và làm oan người vô tội ( xét xử người không có tội, tội nhẹ xử nặng không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm do người có hành vi phạm tội gây ra; hành vi của họ không cấu thành tội phạm hình sự).
Điều đó gây thiệt hại đến lợi ích của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, ảnh hưởng đến uy tín của các cơ quan tiến hành xét xử, gây mất niềm tin trong nhân dân, vi phạm các nguyên tắc của BLTTHS (như nguyên tắc xác định sự thật của vụ án, nguyên tắc đảm bảo quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân. Những sai lầm được phát hiện từ những bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật do những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan và nó tồn tại như một quy luật. Bởi lẽ, nhận thức chân lý là một qúa trình phản ánh nhận thức của con người từ chưa biết đến biết, biết ít đến biết nhiều, từ hiện tượng đến bản chất. Đó là quá trình trải qua hai giai đoạn tất yếu từ nhận thức cảm tính (trực quan sinh động) đến nhận thức lý tính ( tư duy trừu TIEU LUAN MOI download : 6skknchat@gmail.com tượng), từ việc thu thập, kiểm tra chứng cứ đến việc đánh giá tổng hợp các chứng cứ đã thu thập được nhằm làm rõ tình tiết của vụ án.
Mặt khác, nhận thức còn là một quá trình mâu thuẫn: giữa biết ít và biết nhiều, biết chưa đầy đủ và biết đầy đủ và phải đặt các sự vật hiện tượng trong mối quan hệ tổng thể, luôn vận động biến đổi nên nó phụ thuộc rất nhiều vào các chủ thể của quá trình nhận thức. Do vậy, có những nhận thức sai lầm là không tránh khỏi. Để khắc phục tình trạng này thì vấn đề đi giải quyết những sai lầm đó là mang tính tất yếu, là yêu cầu khách quan đặt ra đối với Toà án và các cơ quan tiến hành tố tụng khác. Theo pháp luật hiện hành quy định nghĩa vụ chứng minh nhằm làm sáng tỏ bản chất của vụ án thuộc về trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng còn người bị kết án có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.
Qui định như vậy, bởi vì quan hệ pháp luật hình sự là mối quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội. Nhà nước với tư cách là chủ thể của mối quan hệ pháp luật hình sự có quyền quy định hành vi nào là tội phạm đồng thời buộc người có hành vi phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi bằng bản án của Toà án hoặc các quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền để truy cứu trách nhiệm của một người buộc Nhà nước phải có những chứng cứ chứng minh hành vi của họ là phạm tội và đi ngược lại với lợi ích của xã hội. Nếu các cơ quan tiến hành tố tụng không chứng minh được hành vi phạm tội của họ thì không thể buộc tội và truy cứu trách nhiệm hình sự họ.
Để việc thu thập chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của một người nào đó đạt hiệu quả Nhà nước lập ra các cơ quan chuyên trách làm nhiệm vụ chứng minh tội phạm. Ở Việt Nam các cơ quan đó là cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án. Các cơ quan này có nhiệm vụ phải áp dụng các biện pháp cần thiết để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy TIEU LUAN MOI download : 7skknchat@gmail.com đủ, đúng người, đúng tội, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và những chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiện hình sự. Khi các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nghĩa vụ chứng minh, pháp luật quy định cho các cơ quan này được áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ cần thiết, phù hợp với nhiệm vụ chứng minh tội phạm đồng thời phải đảm bảo tôn trọng các quyền tự do của công dân.
Nhưng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử nếu có giai đoạn một trong những cơ quan tiến hành tố tụng mắc sai lầm mà bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật mới phát hiện ra sai lầm đó thì nghĩa vụ khắc phục phải là các cơ quan tiến hành tố tụng. Người bị kết án không có nghĩa vụ chứng minh là mình vô tội nhưng có quyền đưa ra các chứng cứ và yêu cầu để chứng minh là mình không có tội. Khi bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật mới phát hiện có sai lầm thì tuỳ theo từng hình thức và mức độ của sai lần đó mà chia thành các dạng khác nhau thông thường được luật tố tụng hình sự các nước phân chia làm hai loại: Thứ nhất, phát hiện ra các tình tiết mới của vụ án mà trong các giai đoạn tố tụng trước đó không xác đụnh được; Thứ hai, phát hiện ra những vi phạm pháp luật trong qúa trình giải quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Đối với những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có những tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà trong quá trình giải quyết vụ án chưa xác định được.
Những tình tiết mới này do những người tiến hành tố tụng không phát hiện và xác định được khi giải quyết vụ án và nó ảnh hưởng đến tính khách quan của vụ án thì được được xét lại theo trình tự tái thẩm. Khi tiến hành theo thủ tục TIEU LUAN MOI download : 8skknchat@gmail.com này thì bản án hoặc quyết định đó có thể được điều tra lại, truy tố lại hoặc xét xử lại. Đối với những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có những vi phạm pháp luật thì được tiến hành theo trình tự giám đốc thẩm. Giám đốc thẩm không phải là một cấp xét xử mà chỉ là một thủ tục đặc biệt của tố tụng hình sự.
Thủ tục này chỉ có thể tiến hành khi có kháng nghị của những cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng có thẩm quyền. Tuy nhiên, không phải tất cả các vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án được phát hiện đều là căn cứ để xem xét lại bản án theo thủ tục giám đốc thẩm mà chỉ là những vi phạm nghiêm trọng ảnh hưởng tới tính khách quan của bản án. Qui định này nhằm đảm bảo sự ổn định của các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nên nhưng vi phạm không nghiem trọng, không ảnh hưởng nhiều tới tính khách quan của vụ án và đặc biệt là ảnh hưởng tới trách nhiệm hình sự của người bị kết án thì thì không được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm. Việc “xét lại” bản án đã có hiệu lực pháp luật của cấp giám đốc thẩm được hiểu đó là hoạt động thẩm tra, xem xét lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án hoặc quyết định đó có phù hợp với các quy định của luật hình sự không và quá trình giải quyết vụ án các cơ quan tiến hành tố tụng có tuân thủ những qui định của luật tố tụng hình sự không.
Khi xác định tính hợp pháp phải xem xét một số vấn đề như: việc định tội có đúng tội danh quy định trong BLHS không? Căn cứ quy định hình phạt có đúng không? áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng có đúng với quy định Luật hình sự không, phần kết luận của bản án hoặc quyết định đó có phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án, các chứng cứ, tình tiết được thẩm tra, xác minh tại phiên tòa không… TIEU LUAN MOI download : 9skknchat@gmail.com Như vậy, giữa thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm tuy có điểm chung là cùng xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện ra sai lầm ảnh hưởng tới tính khách quan của vụ án và trách nhiệm hình sự đối với người bị kết án nhưng khác nhau ở chỗ nếu phát hiện ra tình tiết mới làm thay đổi bản chất vụ án thì xem xét lại theo thủ tục tái thẩm còn nếu phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong qúa trình giải quyết vụ án thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm. Chính sự khác biệt này của hai thủ tục đã quyết định nội dung việc xem xét và phán quyết của bản án tái thẩm và giám đốc thẩm. Nếu như quyết định tái thẩm liên quan đến nội dung của bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực của Toà án thì bản án quyết định giám đốc thẩm chỉ xác định có hay không có vi phạm pháp luật trong qúa trình giải quyết vụ án. Giám đốc thẩm cũng khác với giám đốc xét xử.
Giám đốc xét xử là việc Tòa án cấp trên kiểm tra hoạt động xét xử của TAND cấp dưới về công tác xét xử thông qua đó kịp thời uốn nắn, sửa chữa hoặc hủy bỏ những sai lầm, thiếu sót nhằm đảm bảo bản án được ban hành đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.