Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG NÓI CHUNG VÀ VỤ KIỆN PHILIPPINES – TRUNG QUỐC NÓI RIÊNG 1. Khái niệm, đặc điểm các tranh chấp trên Biển Đông Biển Đông là vùng biển nửa kín có diện tích khoảng 3.5 triệu km2, bao bọc bởi chín quốc gia là Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Brunei, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Campuchia và một vùng lãnh thổ là Đài Loan. Biển Đông là một trong các khu vực có tầm quan trọng chiến lược đối với các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương nói riêng và các quốc gia khác trên thế giới nói chung [2]. (i)Về kinh tế: Biển Đông có nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật vô cùng phong phú và đa dạng với trữ lượng lớn, là tiềm năng to lớn để phát triển công – thương nghiệp, đồng thời là nơi dự trữ sinh quyển quan trọng trên thế giới.
Với vị trí nối liền các vùng biển lớn giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, Biển Đông là yết hầu cho giao lưu hàng hóa của nhiều nước châu Á và trở thành tuyến đường giao thông huyết mạch nhộn nhịp thứ hai thế giới, thúc đẩy sự phát triển của vận tải biển nói riêng, kinh tế biển nói chung. (ii)Về chính trị và an ninh quốc phòng: Biển Đông là địa bàn chiến lược không chỉ của các quốc gia trong khu vực mà còn gồm các quốc gia lớn như Hoa Kỳ,Hàn Quốc, Nhật Bản,Nga, Ấn Độ…Đối với các quốc gia ven biển, Biển Đông có ý nghĩa phòng thủ chiến lược. Các thực thể địa lý trong hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là những nơi quan trọng có thể xây dựng các trạm dừng chân, trạm thông tin, cứu hộ, tiếp nhiên liệu, là “cánh tay nối dài” khẳng định chủ quyền của quốc gia tại Biển Đông. Việc bất cứ một quốc gia nào thực hiện những yêu sách thái quá, vi phạm các quy định của luật quốc tế đều ảnh hưởng nghiêm trọng và trực tiếp tới chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia trong khu vực nói riêng và quyền lợi chính đáng của các quốc gia khác nói chung.
Xuất phát từ những lợi ích mang tính chiến lược như vậy, Biển Đông trở thành đối tượng yêu sách của các quốc gia trong khu vực, dẫn tới những tranh chấp phức tạp kéo dài, gọi chung là “Tranh chấp Biển Đông”. Tranh chấp Biển Đông là một 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dạng tranh chấp quốc tế, theo đó các chủ thể tham gia vào quan hệ quốc tế có những quan điểm pháp lý và quyền lợi mâu thuẫn nhau. Nguyễn Bá Diến – nhà nghiên cứu giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực Luật biển, đã định nghĩa rất sát: Tranh chấp quốc tế về biển, đảo là những mâu thuẫn, xung đột giữa các quốc gia và các chủ thể của luật quốc tế nói chung về những vấn đề liên quan tới việc giải thích hay áp dụng các quy định của các điều ước quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, hoặc bất kỳ vấn đề khác liên quan đến lĩnh vực biển, đảo phát sinh trong quan hệ giữa các bên hữu quan [9, tr. Tranh chấp Biển Đông có một số đặc điểm như: (i)Tranh chấp Biển Đông liên quan tới nhiều chủ thể của luật quốc tếnhư tranh chấp giữa các quốc gia (Ví dụ: Tranh chấp đảo Pulau Ligitan và Pulau Sipadan giữa Malaysia và Indonesia); tranh chấp giữa quốc gia với vùng lãnh thổ - chủ thể đặc biệt của luật quốc tế (Ví dụ: Tranh chấp đảo Ba Bình trong quần đảo Trường Sa giữa Việt Nam và vùng lãnh thổ Đài Loan).
Đặc biệt, các nước trong khu vực tranh chấp đa số đều là thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Với sứ mệnh của mình, ASEAN đã có nhiều đóng góp tích cực là cầu nối đối thoại giữa các bên trong việc giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông, điển hình là việc ra Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) năm 2002 và thúc đẩy các bên tiến đến ký kết Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC). (ii) Đối tượng tranh chấp Biển Đông bao gồm: Lãnh thổ, kinh tế và an ninh: Như đã chỉ ra, xuất phát từ vị trí địa chiến lược, địa kinh tế và địa chính trị, do đó, Biển Đông trở thành đối tượng tranh chấp của nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trong khu vực. Xuy cho cùng, bản chất của tranh chấp Biển Đông xoay quanh câu chuyện về lợi ích không thể dung hòa.
(iii)Các tranh chấp Biển Đông có tính chất phức tạp, khó giải quyết và bất cân xứng.Tính phức tạp của xung đột này được quy định bởi sự đa dạng về đối tượng tranh chấp, chủ thể tham gia và mức độ đối nghịch khác nhau trong từng loại hình 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mâu thuẫn. Sự phức tạp của các mâu thuẫn này còn tăng lên bởi những yếu tố như lịch sử và tâm lý. Lịch sử xung đột và chia rẽ kéo dài trong khu vực, ý thức chủ quyền và tinh thần dân tộc mạnh mẽ, truyền thống đấu tranh lớn hơn hợp tác, sự thù hằn lịch sử và định kiến dân tộc… đều đang làm xung đột thêm phần sâu sắc [4]. Không những thế, tính bất cân xứng thể hiện rõ khi một bên là các nước đang phát triển với một bên là Trung Quốc – siêu cường mới của thế giới.
Hơn nữa, do các mâu thuẫn này đều liên quan đến lợi ích cơ bản của quốc gia nên rất khó điều hòa và rất khó để giải quyết. (iv)Tác động của các tranh chấp Biển Đông đã vượt ra khỏi phạm vi khu vực, trở thành một trong những điểm nóng toàn cầu.Tuy tranh chấp Biển Đông chỉ diễn ra giữa các nước trong khu vực nhưng không thể phủ nhận tác động mạnh mẽ của nó tới các quốc gia khác trên thế giới. Điều này thể hiện rõ nét khi Trung Quốc công bố yêu sách “đường lưỡi bò” và thực hiện một loạt các hành vi phi lý nhằm hiện thực hóa yêu sách này, đã ảnh hưởng trực tiếp tới quyền tự do hàng hải và các hoạt động giao thương trên biển của những quốc gia lớn như Nga, Hoa Kỳ…Hơn nữa, nếu xung đột xảy ra, nơi đây sẽ trở thành điểm nóng đối với toàn cầu. Chính vì vậy, giải quyết hòa bình tranh chấp Biển Đông là góp phần bảo vệ hòa bình và an ninh khu vực, qua đó giảm thiểu nguy cơ xấu tới hòa bình thế giới.
Phân loại các tranh chấp trên Biển Đông Tranh chấp Biển Đông hiện nay có thể chia thành các loại tranh chấp chủ yếu như sau: Thứ nhất, tranh chấp liên quan tới chủ quyền lãnh thổ. Trong đó, tồn tại hai tranh chấp nổi cộm là: (i) Tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, cụ thể: Tranh chấp quần đảo Hoàng Sa với Trung Quốc và Đài Loan; Tranh chấp quần đảo Trường Sa vớiTrung Quốc, Đài Loan, Philippines, Malaysia và Brunei; (ii) Tranh chấp chủ quyền đối với bãi ngầm Hoàng Nham giữa Philippines và Trung Quốc. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ hai, tranh chấp liên quan đến các vùng biển chồng lấn, trong đó nổi lên vấn đề phân định biên giới/ranh giới biển giữa Việt Nam và các nước trong khu vực như: (i)Phân định ranh giới biển với Trung Quốc khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ có diện tích chồng lấn khoảng 1080 km2 [4, tr. (ii)Phân định vùng đặc quyền kinh tế với Indonesia khu vực nam Biển Đông.
(iii)Phân định ranh giới Thềm lục địa và Vùng đặc quyền kinh tế với Malaysia trong Vịnh Thái Lan trong khu vực chồng lấn khoảng 2800km2. (iv)Phân định ranh giới Thềm lục địa chồng lấn 3 bên với Thái Lan – Malaysia trong trong Vịnh Thái Lan. (v)Phân định biên giới/ranh giới biển với Campuchia trong khu vực Vịnh Thái Lan. (vi) Phân định biên giới/ranh giới biển với Brunei Thứ ba, tranh chấp về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Công ước trong quá trình khai thác, quản lý và sử dụng biển như: Tranh chấp về khai thác dầu mỏ, khí đốt; tranh chấp về nghề cá khi Trung Quốc tuyên bố đơn phương áp đặt Lệnh cấm đánh bắt cá tại Biển Đông năm 1999; và các tranh chấp liên quan tới quyền tự do hàng hải, hàng không.
Thứ tư, tranh chấp liên quan tới yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc chiếm hơn 80% diện tích Biển Đông. Theo quan điểm của người viết, đây là tranh chấp nổi cộm nhất hiện nay và có mối liên hệ nguyên nhân – kết quả tới các loại tranh chấp khác trên Biển Đông. “Đường lưỡi bò” hay “đường chín đoạn” có thể được Trung Quốc vin vào như một Tuyên bố chủ quyền nhằm kiểm soát tất cả các thực thể, vùng đất, vùng nước và đáy biển bên trong“đường chín đoạn”. Bằng yêu sách phi lý,mơ hồ và bất nhất này, Trung Quốc đã ngang nhiên tước đoạt chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia trong khu vực Biển Đông, đặc biệt là khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Bên cạnh đó, nhằm hiện thực hóa yêu 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sách ngông cuồng này, Trung Quốc đã tự cho mình cái quyền được thực hiện việc cải tạo, xây dựng đảo nhân tạo, đơn phương ban hành lệnh cấm đánh bắt cá, bắt giữ trái phép tàu thuyền của các quốc gia khác. Chính những nguyên nhân đó đã dẫn đến kết quả của việc hình thành và kéo dài các cuộc tranh chấp gay gắt liên quan tới việc thực hiện các quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia ven biển theo quy định của Công ước, đe dọa nghiêm trọng tới sự tự do và an ninh hàng hải. Tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc cũng không phải là ngoại lệ. Từ đó cho thấy việc giải quyết tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc thực chất là xem xét tới tính pháp lý của yêu sách đường chín đoạn, từ đó là cơ sở quan trọng để giải quyết các tranh chấp khác có liên quan.
Việc phân loại các tranh chấp này chỉ mang tính chất tương đối dựa trên đối tượng tranh chấp, cho ta thấy một bức tranh toàn cảnh về cục diện tranh chấp tại Biển Đông. Việc giải quyết một tranh chấp có hệ quả pháp lý liên đới và tác động mạnh mẽ tới các tranh chấp còn lại trên Biển Đông. Các thiết chế tài phán quốc tế và việc giải quyết tranh chấp Biển Đông Giải quyết tranh chấp Biển Đông bằng các thiết chế tài phán quốc tế là một trong những phương thức hòa bình giải quyết tranh chấp được quy định trong Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc và ghi nhận cụ thể tại Điều 287 Phần XV UNCLOS 1982.