Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI TRONG KHUÔN KHỔ WTO 1. TỔNG QUAN QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CHẾ ĐỊNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI CỦA WTO 1. Khái niệm tranh chấp thƣơng mại trong khuôn khổ WTO Thuật ngữ "tranh chấp" được hiểu theo nghĩa thông thường là bất đồng, xung đột, tranh cãi về quyền hoặc nghĩa vụ mà trong đó việc khẳng định quyền của một bên được đáp lại bằng sự từ chối, phủ nhận hay yêu cầu ngược lại của phía bên kia. Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Hoàng Phê chủ biên thì tranh chấp là đấu tranh, giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên [31].
Khái niệm thương mại quốc tế, theo định nghĩa của UNCITRAL được hiểu theo nghĩa rất rộng, bao gồm mọi hoạt động kinh doanh trên thị trường quốc tế, tức là bao gồm mọi hoạt động thương mại quốc tế và đầu tư quốc tế từ mua bán hàng hóa hữu hình đến các dịch vụ như bảo hiểm, tài chính, tín dụng, chuyển giao công nghệ, thông tin, vận tải, du lịch… [16]. Theo định nghĩa này, có thể thấy phạm vi hoạt động của thương mại bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, trong đó hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ chỉ là một phạm vi rất nhỏ trong thương mại. WTO với cách quan niệm hiện đại về thương mại thì cho rằng các hoạt động thương mại là tất cả các hoạt động nhằm mục đích sinh lời, bất kể đó là hàng hóa, dịch vụ hay đầu tư. WTO được thành lập ngày 01/01/1995 theo Hiệp định Marrakesh.
Cùng với việc thành lập WTO, chế định giải quyết tranh chấp thương mại 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của tổ chức này được kế thừa và phát triển. Trong đó, WTO quan niệm "tranh chấp thương mại" là tranh chấp ở phạm vi quốc tế, được dùng để chỉ các bất đồng giữa các nước thành viên WTO khi một nước cho rằng quyền lợi của mình theo một hiệp định nào đó của WTO bị triệt tiêu đi hay bị xâm hại do việc một nước thành viên khác áp dụng một biện pháp thương mại hoặc không thực hiện một nghĩa vụ (khiếu kiện vi phạm); hoặc khi việc đạt được mục tiêu của hiệp định bị cản trở, triệt tiêu hoặc suy giảm quyền lợi thương mại do biện pháp thương mại của một thành viên bất kể là biện pháp này có trái với nghĩa vụ thành viên hay không (khiếu kiện không có vi phạm); hoặc khi có bất kỳ tình tiết nào đem lại thiệt hại về quyền lợi hay cản trở đạt mục tiêu hiệp định (khiếu kiện tình huống). Hơn nữa, một bất đồng chỉ trở thành một tranh chấp của WTO khi nó được chính thức thông báo cho Ban thư ký WTO [16, tr. Như vậy, trong khuôn khổ WTO, tranh chấp thương mại được hiểu là bất đồng giữa các thành viên WTO liên quan đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo các Hiệp định và thỏa thuận của WTO và bất đồng này được thông báo chính thức cho Ban thư ký WTO.
Từ định nghĩa trên, có thể rút ra một số đặc điểm của tranh chấp thương mại trong khuôn khổ WTO như sau: Thứ nhất, tranh chấp thương mại trong khuôn khổ WTO là tranh chấp thương mại quốc tế liên quốc gia, liên chính phủ; Thứ hai, các bên tranh chấp là thành viên WTO. Các tổ chức quốc tế, các cá nhân, pháp nhân… không thể là một bên của tranh chấp; Thứ ba, khách thể của tranh chấp luôn liên quan đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo các Hiệp định và thỏa thuận của WTO; Thứ tư, tranh chấp phải được giải quyết theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO (DSM). 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tranh chấp thương mại là một trong những hệ quả của hoạt động thương mại, đặc biệt là trong thương mại quốc tế (do xung đột pháp luật, bất đồng ngôn ngữ…). Vì vậy, giải quyết tranh chấp phát sinh là một nhu cầu tất yếu khách quan.
Giải quyết tranh chấp thương mại trong khuôn khổ WTO theo nghĩa chung nhất có thể hiểu là cách thức, phương pháp hoặc các hoạt động của WTO để điều chỉnh các bất đồng, các xung đột giữa các thành viên WTO liên quan đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo các Hiệp định và thỏa thuận của WTO nhằm khắc phục và loại trừ các tranh chấp đã phát sinh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tế, bên cạnh việc đẩy mạnh các quan hệ kinh tế song phương, Việt Nam đã tham gia vào các tổ chức quốc tế đa phương như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), WTO… Việc giải quyết tranh chấp thương mại của WTO có nhiều ưu việt hơn giải quyết tranh chấp của các tổ chức quốc tế khác. Giải quyết tranh chấp thương mại trong ASEAN chủ yếu được quy định trong nghị định thư về cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại (Nghị định thư ASEAN). Các quy định của Nghị định thư ASEAN được thể hiện đơn giản, ngắn gọn và khác với cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO ở một số điểm như: Cơ quan xem xét phúc thẩm là Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế các nước ASEAN (bao gồm các chính trị gia), thay vì là các học giả, chuyên gia pháp luật, thương mại quốc tế nổi tiếng; việc thông qua phán quyết hay khuyến nghị trong Nghị định thư ASEAN theo nguyên tắc quá bán; việc thi hành các phán quyết và khuyến nghị, theo nghị định thư ASEAN chưa được quy định rõ.
DSM của ASEAN được tồn tại để giải quyết các tranh chấp thương mại. Tuy nhiên, cơ chế này cho đến nay vẫn chưa được thử nghiệm trên thực tế nên khó có thể có một đánh giá chính xác. Nhưng theo đánh giá của nhiều nhà 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bình luận quốc tế, so với DSM của ASEAN, chế định giải quyết tranh chấp thương mại của WTO có nhiều ưu việt hơn. DSM của WTO không chỉ bao gồm Điều 22 và 23 của GATT mà còn có cả Thỏa thuận về các Quy tắc và Thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp - DSU (Dispute Settlement Understanding), được biết đến như là phụ lục 2 của Hiệp định thành lập WTO, gồm 27 điều và 4 phụ lục.
Ngoài ra, trong các tranh chấp liên quan đến một số vấn đề thương mại cụ thể, còn có các hiệp định đặc biệt hay bổ sung được quy định tại một số hiệp định liên quan (được liệt kê tại phụ lục 2 của DSU). Các quy định đặc biệt hay bổ sung có giá trị ưu tiên áp dụng trong trường hợp có sự khác nhau giữa các quy định này với các quy định của DSU (Điều 1. Tuy nhiên, các quy định của DSU vẫn được coi là xương sống của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO. DSU quy định các phương pháp, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp, bảo đảm tính công bằng, thống nhất, khách quan, đồng thời cũng đưa ra các biện pháp bảo đảm thi hành các khuyến nghị, phán quyết của cơ quan giải quyết tranh chấp.
Quá trình hình thành và phát triển chế định giải quyết tranh chấp thƣơng mại của WTO Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO là sự đổi mới và kế thừa các quy định về giải quyết tranh chấp của hệ thống thương mại đa phương trước đó trên cơ sở của GATT 1947. Quá trình hình thành và phát triển chế định giải quyết tranh chấp thương mại của WTO có thể chia làm hai giai đoạn là giai đoạn từ 1948-1995 và từ 1995 đến nay. Giai đoạn từ 1948 - 1995 Tuy GATT 1947 thất bại trong việc lập ra Tổ chức thương mại quốc tế (ITO) và không đặt ra việc soạn thảo cơ chế giải quyết tranh chấp nhưng trên thực tế có Điều XXII và Điều XXIII quy định tổng quan về vấn đề này. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Những nguyên tắc đầu tiên trong Điều XXIII:2 của GATT 1947 quy định rằng, bản thân các bên ký kết phải với tư cách là tập thể để giải quyết bất kỳ tranh chấp nào giữa các bên ký kết.
Vì vậy, các tranh chấp trong những năm đầu được Chủ tịch Hội đồng GATT đưa ra phán quyết. Sau này, các tranh chấp được chuyển đến các Ban công tác (Working Party) gồm đại diện của tất cả các bên ký kết có liên quan, bao gồm cả các bên tranh chấp. Những ban công này thông qua báo cáo trên cơ sở quyết định đồng thuận. Ban công tác sớm bị thay thế bởi Ban Hội thẩm gồm từ 3 - 5 chuyên gia độc lập của các nước thành viên GATT.
Ban Hội thẩm làm báo cáo gửi Hội đồng GATT và phải được tất cả các thành viên của GATT đồng ý thì báo cáo mới được thông qua (nguyên tắc đồng thuận tuyệt đối). Vì vậy, thủ tục giải quyết tranh chấp giai đoạn này mang tính ngoại giao là chính. Những quyết định và thỏa thuận quan trọng nhất trước Vòng Urugoay gồm: Quyết định ngày 05/4/1966 về các thủ tục theo Điều XXIII; Thỏa thuận về thông báo, tham vấn, giải quyết tranh chấp và giám sát, được thông qua ngày 28/11/1979; Quyết định về giải quyết tranh chấp, trong Tuyên bố Bộ trưởng ngày 29/11/1982; Quyết định về giải quyết tranh chấp ngày 30/11/1984 [23]. Từ năm 1983, Phòng pháp luật GATT phối hợp Ban Hội thẩm soạn thảo các báo cáo về giải quyết tranh chấp (case by case).
Trước đó, báo cáo về giải quyết tranh chấp được Ban Hội thẩm sau áp dụng rộng rãi như là các "án lệ" thương mại quốc tế, Ban Hội thẩm bắt đầu sử dụng các quy tắc tập quán trong giải thích công pháp quốc tế. Như vậy, trong giai đoạn từ 1948-1995, chế định giải quyết tranh chấp đi từ "tài phán ngoại giao (diplomat’s jurisprudence) sang chế định giải quyết tranh chấp dựa trên hệ thống tài phán bán tư pháp (Rules - based system of dispute settlement through adjudication). 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhìn nhận về giai đoạn này, nhiều nhà bình luận quốc tế cho rằng, trong gần 50 năm tồn tại, chế định giải quyết tranh chấp của GATT 1947 cũng đã góp phần xử lý tranh chấp thương mại quốc tế, thỏa mãn trong một mức độ các yêu cầu của các bên (giải quyết được hơn 100 vụ việc). Tuy nhiên, chính nguyên tắc đồng thuận tuyệt đối đã làm cho GATT 1947 có nhiều hạn chế.
Bởi vì, theo đó toàn bộ hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT được đặt trên cơ sở ra quyết định đồng thuận.