phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn được bố cục 3 chương, 9 tiết. 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI 1. Khái niệm và đặc điểm giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài. Khái niệm ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài và giải quyết ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài.
Khái niệm và đặc điểm ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài. Ly hôn là hiện tượng xã hội gắn liền với quyền tự do hôn nhân. Quyền ly hôn là quyền cơ bản được luật pháp quốc gia và quốc tế công nhận. Tuy nhiên, quyền ly hôn là quyền riêng tư.
Có việc ly hôn hay không trước hết phải dựa trên sự tự nguyện của ít nhất một bên vợ hoặc chồng. Nhà nước bằng pháp luật không thể cưỡng ép nam nữ kết hôn, do vậy cũng không thể bằng pháp luật bắt buộc họ phải tiếp tục chung sống khi đời sống chung vợ chồng thực sự không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì thế ly hôn là một giải pháp cần thiết để chấm dứt quan hệ hôn nhân thật sự tan vỡ trên cơ sở thực tế và về mặt pháp lý. "Ly hôn là một mặt của quan hệ hôn nhân.
Nếu kết hôn là hiện tượng bình thường nhằm xác lập quan hệ vợ chồng, thì ly hôn là hiện tượng bất bình thường, là mặt trái của hôn nhân nhưng là mặt không thể thiếu được khi quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ" [37, tr. Pháp luật Việt Nam ghi nhận và tôn trọng quyền ly hôn và có những công cụ đảm bảo thực hiện quyền tự do ly hôn của cá nhân. Quyền ly hôn là quyền tự do về dân sự. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền ly hôn gắn liền với thủ tục, thẩm quyền, và sự kiểm soát giải quyết việc ly hôn của cơ quan nhà nước.
Thẩm quyền tài phán nói chung, thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng được giải quyết dựa trên cơ sở các nguyên tắc về chủ 11 quyền tài phán quốc gia. Hay nói cách khác, giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài là việc áp dụng pháp luật để giải quyết ly hôn trên cơ sở vận dụng các nguyên tắc xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế. Mặt khác, việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài phải dựa trên cơ sở những quy định của pháp luật về đảm bảo lợi ích chung của gia đình, của con cái, dựa trên căn cứ ly hôn, việc giải quyết ly hôn không dựa vào lỗi của các bên, mà dựa vào bản chất của quan hệ hôn nhân, bởi: Ly hôn chỉ là việc xác nhận một sự kiện, cuộc hôn nhân này là một cuộc hôn nhân đã chết, sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và giả dối. Đương nhiên, không phải sự tùy tiện của nhà lập pháp, cũng không phải sự tùy tiện của những cá nhân, mà chỉ bản chất của sự kiện mới quyết định được là cuộc hôn nhân này đã chết hoặc chưa chết.
Bởi vì…việc xác nhận sự kiện chết là tùy thuộc vào thực chất của vấn đề chứ không phải vào nguyện vọng của những bên hữu quan…Nhà lập pháp chỉ có thể xác định những điều kiện trong đó hôn nhân được phép tan vỡ, nghĩa là trong đó, về thực chất hôn nhân tự nó đã bị phá vỡ rồi, việc Tòa án cho phép phá bỏ hôn nhân chỉ có thể là việc ghi biên bản sự tan vỡ bên trong của nó. Theo pháp luật Việt Nam cơ sở để chấm dứt quan hệ vợ chồng về mặt pháp lý là một bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn. Quyền yêu cầu ly hôn là quyền nhân thân, gắn liền với vợ chồng, do vợ chồng tự mình thực hiện mà không thể chuyển giao cho người khác, vì vậy quyền yêu cầu ly hôn của vợ chồng là cơ sở để Toà án xem xét việc giải quyết ly hôn, nhưng Tòa án có giải quyết cho vợ chồng ly hôn hay không phải dựa vào căn cứ ly hôn được pháp luật quy định.
12 Khoản 8 Điều 8 LHNGĐ năm 2000 đưa ra khái niệm ly hôn như sau: Ly hôn là chấm dứt quan hệ vợ chồng do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng. Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài theo ph¸p luËt ViÖt Nam lµ quan hÖ ly h«n gi÷a c«ng d©n ViÖt Nam víi ng-êi ng-íc ngoµi, gi÷a ng-êi n-íc ngoµi víi nhau th-êng tró tại ViÖt Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài, cụ thể kho¶n 14 §iÒu 8 LHNG§ năm 2000 ®-a ra kh¸i niÖm nh- sau: 14. Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình: a) Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài; b) Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; c) Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài. Như vậy, theo các quy định trên ly hôn có yếu tố nước ngoài có thể hiểu bao gồm các trường hợp sau: - Trong vụ án ly hôn có ít nhất một bên chủ thể là người nước ngoài.
Theo pháp luật Việt Nam người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, người nước ngoài bao gồm người có quốc tịch nước ngoài (họ có thể có một hoặc nhiều quốc tịch nước ngoài) và người không có quốc tịch. - Quan hệ trong vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài đó có thể xuất phát từ việc giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, ví dụ giữa hai công dân Việt Nam kết hôn với nhau tại Mỹ, theo pháp luật Mỹ, chung sống với nhau tại Mỹ. Nay họ về Việt Nam xin ly hôn tại Tòa án Việt Nam, trường hợp này Tòa án có 13 thẩm quyền của Việt Nam có thể thụ lý vụ án để giải quyết trên cơ sở thừa nhận việc kết hôn của họ ở Mỹ và tài sản của họ ở Mỹ là hợp pháp, việc kết hôn của họ không trái với các quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn. - Trong vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài đó có tài sản tranh chấp ở nước ngoài.
Trường hợp này có thể là các bên đương sự đều là người Việt Nam nhưng tài sản tranh chấp ở nước ngoài nhưng cũng có thể là giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài có tài sản ở nước ngoài. Đối với việc giải quyết vụ án ly hôn mà giải quyết về tài sản là bất động sản ở nước ngoài thì khi ly hôn giải quyết về bất động sản sẽ tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó (điểm c khoản 14 LHNGĐ năm 2000). Như vậy ta có thể đưa ra khái niệm như sau: Ly hôn có yếu tố nước ngoài là việc Toµ ¸n chấm dứt quan hệ vợ chồng có yếu tố nước ngoài theo trình tự thủ tục do pháp luËt quy định. Khái niệm, nội dung trình tự, thủ tục giải quyết ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài.
Ở Việt Nam cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới, Toà án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải quyết, xét xử các vụ án ly hôn. Khi giải quyết các vụ án ly hôn Tòa án phải thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng theo trình tự, thủ tục vµ những nguyên tắc cơ bản được quy định trong luËt tố tụng dân sự nh- nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Vụ án ly hôn có yếu tố nưíc ngoài cũng phát sinh tại Tòa án từ khi vợ chồng hoặc cả hai vợ chồng có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
Tòa án tiến hành giải quyết qua nhiều thủ tục tố tụng khác nhau như: nhận đơn khởi 14 kiện, thụ lý vụ án, điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ, hòa giải, chuẩn bị xét xử, đưa vụ án ra xét xử, ra bản án, quyết định. Sau khi xem xét đơn khởi kiện của người khởi kiện, Tòa án kiểm tra đơn cùng các tài liệu kèm theo để nghiên cứu, nếu thấy đủ điều kiện thụ lý thì Tòa án thông báo cho họ để họ tiến hành nộp dự phí ly hôn. Sau khi người khởi kiện đã nộp dự phí ly hôn và nộp biên lai cho Tòa án, trong thời hạn luật định Tòa án phải cho tiến hành thụ lý vụ án để giải quyết. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết các vụ việc ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và tiến hành các hoạt động tố tụng theo trình tự, thủ tục chung.
Trong quá trình giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài thì việc xác định thẩm quyền giải quyết, quyền khởi kiện, điều kiện khởi kiện, tư cách đương sự là rất quan trọng, tiền đề cho các giai đoạn tố tụng tiếp theo. Về xác định tư cách ng-êi tham gia tè tông: - Nguyên đơn: là người khởi kiện, như đã phân tích ở trên trong vụ án ly hôn nguyên đơn phải là vợ hoặc chồng, Tòa án chỉ thụ lý vụ án ly hôn trên cơ sở sự tự nguyện yêu cầu ly hôn của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng. Nếu thiếu sự tự nguyện yêu cầu ly hôn thì Tòa án không giải quyết cho ly hôn vì có thể là do bị cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, thuận tình ly hôn giả để che dấu một nội dung khác. - Bị đơn: là người bị nguyên đơn khởi kiện, trong vụ án ly hôn bị đơn có thể là vợ hoặc chồng bị nguyên đơn khởi kiện.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: là trường hợp những người tham gia tố tụng trong vụ án ly hôn tuy không có đơn khởi kiện, không bị kiện nhưng việc giải quyết vụ án ly hôn có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ mà Tòa án đưa họ vào tham gia tố tụng.