phần mở đầu, tác giả Phạm Quỳnh đã viết: “Song bà con mình ở giữa Hà Nội mà còn thích nghe tả cảnh Hồ Hoàn Kiếm, thời tất cho đi chơi Lạng Sơn, Cao Bằng cũng là cuộc “du lịch”, và muốn cho khách làng văn đã được một cuộc “du lịch”, và muốn cho khách làng văn đã được thưởng cái thú “bầu rượu nắm nem” về cũng phải thuật cho đồng nhân nghe” [48]. Tác giả viết đôi khi chỉ là muốn đồng nhân của mình được sống cùng mình, trải nghiệm cùng mình những điều tốt đẹp mà bản thân tác giả may mắn được đến, được thấy. Thêm vào đó, tác giả nắm rõ thị hiếu của người đọc khi mà câu chuyện chính nơi mình sinh sống còn muốn 16 c biết, huống hồ là một chuyến đi ở một nơi xa lạ, nhiều người chưa từng có cơ hội được đi đến, thì ắt hẳn đồng nhân phải tò mò lắm, thích thú lắm chứ! Hay trong Hành trình chơi núi An Tử, ở kết thúc bài viết của mình tác giả Kiếm Hồ Nguyễn Thế Hữu đã dãi bày về giá trị những trang viết của mình muốn mang đến cho độc giả: “Vì tôi thấy phần nhiều người có lòng ước ao, mà chỉ ngại đường sá trèo đèo, cho nên tôi đi về có chép thành tập này, ghi thực những sự mắt tôi đã được trông thấy, tai tôi đã được nghe. Bà con ta, ai có lòng mộ Phật mà lại quá yêu đến tôi, tập sách này tưởng cũng góp được một vài phần trong nghìn vạn, nghĩa là cứ sự thực là tôi chép, không có gì là văn chương mà dám khoe khoang ngòi bút” [21, 53].
Tác giả thể hiện sự khiêm tốn của bản thân khi viết tác phẩm du ký này, tuy nhiên người đọc lại tìm thấy một sự vất vả trong chuyến đi và sự dày công, tỉ mỉ trong mỗi trang viết. Các tác giả chủ yếu viết về cảnh đẹp vùng núi, về những đổi thay của đất nước, đó cũng có thể là những truyền thuyết, sự tích, về lịch sử dựng nước và giữ nước hào hùng của cha ông ta. Người đọc còn tìm được trong những trang du ký về bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số sống ở khu vực Đông Bắc, với một sự ngợi ca và tự hào. Đọc du ký, độc giả không chỉ có thể được giải trí, được phóng thích bản thân ra khỏi cái ngột ngạt của cuộc sống chật hẹp xung quanh mình để đi xa hơn cùng mỗi trang viết mà còn để có thêm một nguồn tri thức sống động, đặc sắc mà khó có thể tìm được nếu bản thân không được đi đến tận nơi.
Nói về lịch sử văn tự Hán ảnh hưởng đến văn học Việt bấy giờ, tác giả Phong Lê đã nhận định: “Một văn tự Hán đã tồn tại trong nhiều thế kỷ văn hóa Việt Nam. Các tầng lớp trí thức đã dùi mài kinh sử, nắm lấy chữ Hán để đến với văn minh Trung Hoa. Suốt cả một thời gian dài, rất dài, trên dưới mười thế kỷ, văn hóa Việt Nam chỉ có một mối liên hệ duy nhất với văn minh Trung Hoa, lấy Nho học làm nền tảng, và cũng chỉ văn minh Trung Hoa mới là mục tiêu học tập, tiếp thu, đối sánh, phấn đấu, thi đua” [30, 263]. Vì vậy, ý thức sáng 17 c tác của các nhà văn, nhà thơ giai đoạn bấy giờ chịu sự chi phối và ảnh hưởng rõ rệt.
Cuối thế kỷ XIX, nền văn hóa phương Tây du nhập và trở nên phổ biến hơn bao giờ hết. Độc giả không còn ưa thích những áng văn khuôn khổ, cứng nhắc nữa. Họ phóng khoáng trong cuộc sống cũng như trong tiếp nhận văn học hơn. Văn học phương Tây với những phá cách trong cách tư duy, cách viết.
Vô hình chung du ký nắm bắt và thỏa mãn được nhu cầu này của độc giả. Độc giả miền xuôi muốn biết về vùng cao và ngược lại, độc giả trong nước muốn biết về nước ngoài. Du ký cập nhật được tức thời những thông tin cần thiết để nâng cao được dân trí của độc giả. Thêm vào đó, sự phát triển của chữ Quốc ngữ cùng sự thịnh hành của du ký trên các mặt báo làm cho việc đọc du ký trở thành một phong trào.
Các bài viết dễ dàng được đưa đến người đọc hơn. Độc giả dễ đọc, dễ cảm nhận hơn về đất nước và con người ở một trong những vùng miền của tổ quốc. Chưa bao giờ, vùng Đông Bắc được quan tâm khai thác và tìm hiểu cặn kẽ, chi tiết đến thế trong văn học.Điều kiện giao thông và du lịch Trước thế kỷ XX, hệ thống đường xá và phương tiện đi lại của khu vực Đông Bắc nói riêng còn gặp nhiều khó khăn. Khi mà nước ta bấy giờ chịu sự kìm hãm, kèm cặp, chi phối của phong kiến phương Bắc.
Phương tiện di chuyển chủ yếu và phổ biến nhất là đôi chân của con người, có số ít là cưỡi ngựa, vùng sông nước thì là những con thuyền bè nhỏ,. Chính vì lẽ đó, việc di chuyển đến địa điểm xa là một việc hết sức khó khăn và nan giải. Du ký là thể văn được viết bởi những chuyến đi. Mà điều kiện cần là các tác giả phải có cơ hội, điều kiện để đi du lịch, thăm thú, được nhìn thấy việc thật người thật chứ không phải ngồi một chỗ và tô vẽ lên một khung cảnh, một cuộc hành du được.
Cùng với việc đường xá, phương tiện, giao thông còn gặp nhiều khó khăn nên du ký ở giai đoạn này chưa thật sự có cơ hội phát triển. Năm 1858, Thực dân Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam, Mục đích chính của Thực dân là thôn tính và vơ vét tài nguyên nước ta. Để thuận tiện cho công 18 c cuộc khai thác thuộc địa, các công trình hạ tầng giao thông vận tải lớn được người Pháp mở mang đầu tư và xây dựng. Các tuyến đường bộ, đường sắt, bến cảng, sân bay được mở ra rất nhiều, và người Việt Nam cũng phần nào được hưởng thụ một nền văn minh hiện đại mới.
Những con đường mới lạ ấy đã đi vào trang ký của các tác giả. Đặc biệt tuyến đường sắt nối liền Hà Nội - Lạng Sơn và Trung Quốc làm cho sự du ký của người miền xuôi lên tỉnh miền ngược của Đông Bắc trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn bao giờ hết. Các nhà văn không chỉ miêu tả về những cảnh đẹp cần đến mà những con đường đã đi qua cũng trở thành nguồn cảm hứng bất tận. Nhà văn Khuông Việt đã cung cấp một lượng thông tin quý giá và thiết thực trong bài du ký của mình: “Rồi lần lần, con đường thiên lý biến thành con đường thuộc địa số 1 dài 2.585 km chạy từ Nam Quan ngăn đôi hai tỉnh Quảng Tây của Tàu và Lạng Sơn của Việt, cho tới ga Aranya, biên giới giữa hai nước Thái Lan và Cao Miên.
Đoạn chánh thuộc đường thiên lý cũ là đoạn nối ba thư đồ Sài Gòn, Huế, Hà Nội dài 1375. Thêm vào đó 1738km đường xe lửa làm trong 34 năm từ 1897, lúc quan cố Toàn quyền Paul Doumer đề xướng đến ngày 2 tháng 9 năm 1936 là ngày khánh thành con đường sắt xuyên Đông Dương” [2, 683]. Đó là một con đường sắt trải dài và chưa từng có trong lịch sử nước ta. Người Việt Nam cũng đón nhận và sử dụng đường sắt như một phương tiện giao thông hữu ích.
Ta cũng không thể phủ nhận những sự văn minh đổi mới mà trong công cuộc khai phá Thực dân đã mang lại. Tuyến đường sắt trên làm cho việc giao thương và giao lưu văn hóa trở nên thuận tiện hơn: “Đường thuộc địa (T.Đ) số 1 cũng như đường xe lửa, bằng phẳng mà thênh thang, trải đá hay tráng nhựa. Núi cao đã có truy đạo, thung lũng đã có hạn kiều, sông rộng và sông sâu đã có ghe máy vững vàng, cầu cổng chắc chắn. Du khách đi suốt ngày nước Việt bằng xe hơi chỉ mất độ 3 ngày, bằng xe lửa chỉ trong 40 giờ” [2, 684].
Thế mới thấy sự thuận tiện khi giao thông được phát triển. Nếu như trước đây, các quan đi sứ phải cưỡi ngựa, cưỡi la, thậm chí là đi bộ, chân trèo đèo lội suối 19 c hàng tháng trời mới đến. Thì nay, việc đi khắp một chiều dài đất nước chỉ mất vài ngày. Trong chuyến Chơi Lạng Sơn, Cao Bằng, Phạm Quỳnh đi xe lửa, theo lời kể của ông thì rất thuận tiện và nhanh chóng: “Thế là xong cuộc “du lịch” cỏn con bốn ngày trời.
Kể thì cũng không có chuyện gì lý thú, đáng ghi chép làm chi. Nhưng trên kia đã nói, theo lệ thường “du lịch” phải có “du ký”, âu cũng là một câu chuyện tắc trách vậy” [48]. Thấy được rằng sự thuận lợi của đường xá, phương tiện nên chuyến đi du lịch của tác giả trở nên dễ dàng. Chuyến đi chơi chỉ trong bốn ngày mà nếu trước kia thì điều đó là không thể xảy ra.
Tác giả Nhật Nham khởi hành chuyến đi Từ Hà Nội đến Hồ Ba Bể của mình trên phương tiện chủ yếu là ô tô. Tất nhiên xa ô tô chở khách giai đoạn này vẫn còn nhiều bất cập vì nhu cầu đi lại cao, các chuyến xe ít nhưng cũng giúp đỡ cho tác giả thực hiện chuyến đi của mình trong vẻn vẹn chín ngày và thăm thú được rất nhiều nơi, tìm hiểu được nhiều điều rất xa lạ với người dân ở những vùng miền khác. Đối với người thành thị, họ tò mò cuộc sống của đồng bào vùng cao nhưng lại ngại trèo đèo lội suối thì giao thông phát triển mở ra một chân trời mới. Các nhà văn đi với tâm trạng đầy háo hức, trải nghiệm những chuyến xê dịch mới lạ.
Hòa chung tâm trạng ấy, du ký được phát triển ra rộng khắp. Cùng với lối sống, văn hóa Nho giáo ăn sâu vào tiềm thức người Việt, con người ưa lối sống ổn định, quây quần bên nhau. Họ ngại đi trong thời gian dài, xa gia đình, xa làng xóm quê hương. Chính vì thế, phương tiện thuận lợi cùng với luồng tư tưởng phương Tây đã thôi thúc con người lên những chuyến xe, chuyến tàu để tìm hiểu và khám phá những vùng đất mới, cũng chính là khám phá chính bản thân mình.
“Thế thì chúng ta ngần ngại gì mà không lợi dụng những thuận tiện ấy để đạp đổ bao nhiêu khó khăn, để đi đến chỗ hoàn toàn hiểu biết nhau, thương yêu nhau, giúp đỡ nhau, sống chết có nhau, hầu gây lại cho non sông cái mầu tươi sáng” [2, 685]. Các nhà văn nói riêng tự giải phóng 20 c được tư tưởng của chính mình. Họ tìm thấy được sự tích cực của những chuyến du hành ấy.