Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Gồm những nội dung: Lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài, kết cấu của luận văn Chương 2: Giới thiệu về công ty cổ phần quốc tế Hòa Bình và cơ sở lý thuyết Gồm những nội dung: Tổng quan về công ty cổ phần quốc tế Hòa Bình, tổng quan cơ sở lý thuyết về lòng trung thành, mối quan hệ giữa sự hài lòng và lòng trung thành, tầm quan trọng của lòng trung thành của nhân viên, lòng trung thành và sự phát triển/thành quả của công ty, các nghiên cứu liên quan đến lòng trung thành, mô hình nghiên cứu lý thuyết và các yếu tố trong mô hình nghiên cứu, đề xuất mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Gồm những nội dung: trình bày phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Chương 4: Kết quả nghiên cứu Gồm những nội dung: phân tích dữ liệu và trình bày kết quả phân tích dữ liệu. Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Gồm những nội dung: kết luận, đề xuất kiến nghị vào thực tiễn, hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. c -8- CHƯƠNG 2 GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN QUỐC TẾ HÒA BÌNH VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan về công ty cổ phần quốc tế Hòa Bình 2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Công ty cổ phần quốc tế Hòa Bình được thành lập năm 1994 do tư nhân quản lý và kinh doanh chủ yếu các mặt hàng về thuốc Bảo vệ thực vật. Tên gọi ban đầu của Công ty là “Công ty Cổ phần Hóa chất Nông nghiệp Hòa Bình”, với vốn đầu tư ban đầu khoảng 1.000 VNĐ, cơ sở sản xuất lúc đó còn chưa được hình thành.
Với văn phòng đăng ký giao dịch tại số: 16, ngõ 1150, đường Láng, phường Láng Thượng, quận Đống Đa, TP. Sau năm 2000, Công ty mở rộng thị trường vào các tỉnh phía Nam và chú trọng các tỉnh đồng bằng song Cửu Long, Tây Nguyên và Đông Nam bộ. Từ thời gian này trở đi, Công ty không ngừng phát triển và lớn mạnh. Quá trình phát triển của Công ty được thể hiện qua các giai đoạn chính sau đây: - Từ năm 1994 – 1999 : mang tên công ty cổ phần hóa chất nông nghiệp Hòa Bình, thành lập Chi nhánh Miền Bắc và xây dựng nhà máy đầu tiên tại thôn Trại Cấm, xã Phú Kim, huyện Thạch Thất, TP.Hà Nội (thuộc tỉnh Hà Tây cũ) - Từ năm 2000 –2002 : đổi tên thành công ty cổ phần Xuất – Nhập khẩu Hòa Bình.
- Từ năm 2003 –2006 : do nhu cầu sản xuất – kinh doanh, mở rộng qui mô doanh nghiệp và lấy tên là công ty cổ phần Bảo vệ Thực vật Hòa Bình, thành lập Chi nhánh Miền Nam và xây dựng thêm 01 xưởng sản xuất tại Lô E33+34 KCN Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh, TP.Hồ Chí Minh. Thành lập Chi nhánh giao dịch là Chi nhánh công ty cổ phần quốc tế Hòa Bình tại số 1, đường 53A, Khu phố 8, P.Bình Tân, TP.Hồ Chí Minh. - Từ tháng 01/2007 đến nay (năm 2015) được lấy tên thành công ty cổ phần quốc tế Hòa Bình, thành lập Chi nhánh tại Long An và xây dựng thêm 01 xưởng c -9- sản xuất tại Lô MC3+4 KCN Đức Hòa 1-Hạnh Phúc, Đức Hòa Đông, Đức Hòa – tỉnh Long An với diện tích gần 2 ha. Hiện nay, Công ty cổ phần quốc tế Hòa Bình tập trung nguồn lực vào ngành nghề sản xuất và kinh doanh chính là thuốc Bảo vệ thực vật, phân bón và hóa chất nông nghiệp, và từng bước phát triển đa dạng sản phẩm đáp ứng các yêu cầu của mọi khách hàng.
Phát triển quy mô hợp lý, đề cao tính hiệu quả nhằm duy trì sự ổn định và từng bước tăng trưởng, chú trọng xây dựng và phát triển nguồn nhân lực, lấy yếu tố con người làm trung tâm và nền tảng cho sự phát triển của công ty.Lĩnh vực hoạt động sản xuất - kinh doanh chính của công ty Hoạt động sản xuất kinh doanh chính của công ty cổ phần quốc tế Hòa Bình là: sản xuất, gia công, sang chai, đóng gói thuốc bảo vệ thực vật (trừ sản xuất hóa chất cơ bản). Mua bán phân bón, thức ăn gia súc, gia cầm, hóa chất (trừ hóa chất có tính độc hại mạnh), máy móc – thiết bị ngành công – nông - ngư nghiệp. Ngoài những lĩnh vực hoạt động chính, công ty đang khai thác một số lĩnh vực tiềm năng như: Xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, bưu chính-viễn thông, thiết bị điện tử, tin học, phần mềm tin học. Sản xuất, mua bán đồ gia dụng, hàng may mặc và thủ công mỹ nghệ.
Kinh doanh du lịch lữ hành nội địa, quốc tế. Đại lý mua bán, ký gửi hàng hóa. Với những chức năng đó công ty đã góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế chung của đất nước mà đặt biệt là sản xuất – kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật và phân bón làm tăng trưởng nền kinh tế chung của đất nước. Cùng với các doanh nghiệp khác công ty cổ phần quốc tế Hòa Bình hoạt động và phát triển với quy mô ngày càng rông lớn và vững mạnh đã thu hút một lượng đông đảo người lao động trong cả nước, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tạo nguồn thu nhập nâng cao đời sống vật chất cho người lao động.
Qua hơn 20 năm trưởng thành và phát triển, công ty cổ phần quốc tế Hòa Bình đã trở thành doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam về cung ứng thuốc Bảo vệ thực vật và phân bón. Với phương châm chính: “Cùng với nông dân cả nước phấn đấu c -10- vì một nền nông nghiệp Việt Nam sạch và bền vững, vì sự ấm no và hạnh phúc của mọi nhà”. Trong nhiều năm qua sản phẩm của Công ty luôn được sự tín nhiệm tin dùng của bà con nông dân trên khắp mọi miền đất nước. Để khẳng định chính mình trên thương trường, tập thể cán bộ công ty cổ phần quốc tế Hòa Bình luôn lấy “uy tín chất lượng sản phẩm làm hàng đầu, sự hài lòng của quý khách hàng, bà con nông dân làm điểm tựa và doanh số là khởi điểm thành công".
Với đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn sâu, có nhiều kinh nghiệm và nhiệt tình công tác cùng hệ thống sản xuất có hạ tầng cơ sở vật chất trang thiết bị hiện đại cho ra các sản phẩm được người nông dân tin dùng. Trong hiện tại và tương lai công ty không ngừng cải tiến sản phẩm nhằm đảm bảo thị hiếu của người tiêu dùng và luôn phấn đấu là người bạn chân thành và gần gũi nhất của nhà nông. Là nhân tố góp phần ổn định chính trị - xã hội ổn định trật tự, đảm bảo an ninh lương thực tốt và tạo điều kiện phát triển đất nước. Thực trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực tại công ty: Đánh giá thực trạng năng lực CBCNV của công ty Đối với lực lượng lao động chính làm việc gián tiếp Như đã phân tích trên đây, mặt bằng trình độ CBNCV công ty còn rất thấp.
Nhìn tổng quát, mỗi CBCNV của Công ty hiện nay đều đang ở mức hoàn thành nhiệm vụ trước mắt của mình. Tuy nhiên, nếu nhìn về tương lai, nhìn về những thách thức mà công ty đang và sắp phải đối mặt thì vẫn còn một số bộ phận CBCNV chưa đáp ứng tốt được yêu cầu nhiệm vụ. Chúng ta có thể nêu ra một số tồn tại về thực tế năng lực CBCNV ở từng đơn vị phòng ban công ty, cụ thể như sau: o Phòng Kinh doanh: - Là nơi giao dịch trực tiếp với khách hàng nước ngoài hàng ngày nhưng trình độ Anh ngữ CBCNV trong phòng không cao, nhất là khả năng nghe nói, vì thế mỗi khi khách hàng gọi điện để giải quyết công việc cho nhanh thì phòng thường lúng túng yêu cầu khách gửi email vừa mất thời gian, tiến độ công việc chậm vừa không hài lòng khách. Thậm chí thực tế đã có trường hợp hiểu sai nội c -11- dung Thư tín dụng (L/C) nên không thực hiện đúng yêu cầu của khách hàng, vừa mất uy tín, mất khách hàng vừa bị phạt vi phạm hợp đồng ngoại thương rất tốn kém.
- Hơn nữa là hiện tại nhân viên phòng Kinh doanh chưa biết cách khai thác thị trường, tìm hướng đi mới cho sản phẩm của công ty và hơn hết là các nhân viên phải có một phương pháp kinh doanh cụ thể, có định hướng thì khi đó mới triển khai bán hàng tới người tiêu dùng mới đảm bảo doanh số của công ty đề ra. - Nhiệm vụ phát triển khách hàng mới còn hạn chế nên Phòng kinh doanh không giúp cho công ty mạnh dạn xây dựng được các phương án đầu tư phát triển sản xuất, đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị. o Phòng Tổ chức: - Có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc về công tác quản trị nhân sự nhưng thực tế phòng chỉ dừng lại ở nhiệm vụ công tác tiền lương, các chế độ BHXH, BHYT, chính sách cho người lao động - Còn thụ động trong công tác tuyển dụng, đào tạo và phát triển lực lượng lao động của công ty, chưa thể hiện đúng chức năng quản trị nhân sự trong công tác quản lý tại công ty. o Phòng Kế toán: - Chỉ dừng lại ở khâu hoàn thành nghiệp vụ hàng ngày, chưa tham mưu được cho Giám đốc về công tác huy động nguồn tài chính và khai thác, đầu tư nguồn tài chính có hiệu quả.
o Phân xưởng sản xuất: - Vẫn còn thiếu sáng kiến cải tiến kỹ thuật, thiếu các biện pháp quản lý giúp tiết kiệm chi phí, tiết kiệm định mức và nâng cao NSLĐ. - Cán bộ phân xưởng đa phần đi từ công nhân lên, chưa qua các lớp nghiệp vụ nên thiếu kiến thức về quản lý nhân sự và quản lý sản xuất. Đối với lực lượng công nhân trực tiếp sản xuất Hạn chế lớn nhất của lực lượng lao động trực tiếp tại công ty là trình độ thấp, đa phần là lao động phổ thông. Theo như đã phân tích thì do nhiều nguyên c -12- nhân mà hiện nay trình độ cấp bậc tay nghề của công nhân công ty còn thấp, phần lớn là bậc 1, 2 và bậc 3, công nhân bậc 6 và bậc 7 rất ít.
Điều này đặt ra yêu cầu Nhà máy phải quan tâm nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân để đảm bảo hiệu quả sản xuất.