Chương 1 làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn như khái 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com niệm về chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, điều chỉnh chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong bối cảnh tự do hóa thương mại, đầu tư, mở cửa, hội nhập. Đồng thời, làm rõ tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam và những thuận lợi, khó khăn trong quá trình thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam trong những năm vừa qua để thấy rõ tầm quan trọng của việc điều chỉnh chính sách đầu tư nước ngoài trong từng mốc thời gian cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư. Chương 2 là chương chính của luận văn, đi vào nghiên cứu chuyên sâu và làm rõ những nội dung điều chỉnh chủ yếu trong chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam kể từ khi gia nhập WTO, đánh giá những tác động tích cực và tiêu cực của việc điều chỉnh chính sách đối với thực tiễn thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam giai đoạn 2006-2010. Chương 3 tập trung phân tích những thuận lợi, khó khăn của Việt Nam khi thực hiện những nội dung điều chỉnh, đề cập đến định hướng về điều chỉnh chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam giai đoạn 2011-2020 để đưa ra một số kiến nghị giải pháp trước mắt để nâng cao hiệu quả điều chỉnh chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam.
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI (FDI) CỦA VIỆT NAM 1. Cơ sở lý luận về điều chỉnh chính sách thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Quá trình phát triển của nền kinh tế Việt Nam những năm qua cho thấy nhiều chuyển biến đáng chú ý với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng được khẳng định mà bước phát triển mang tính đột phá chính là sự kiện Việt Nam đã đàm phán thành công để gia nhập WTO cuối năm 2006. Yêu cầu của quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng vào các diễn biến toàn cầu trong suốt thời gian qua cho thấy Việt Nam cần thiết phải nắm bắt và vận dụng những lý luận, tư tưởng, quan điểm phù hợp liên quan tới quá trình hội nhập quốc tế và từ đó xây dựng các chính sách quản lý, chính sách điều tiết phù hợp cho giai đoạn phát triển mới. Trong phần này, luận văn nhấn mạnh tới một số khái niệm và lý luận quan trọng sử dụng để nghiên cứu về quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam với sự kiện gia nhập WTO và điều chỉnh chính sách thu hút đầu tư nước ngoài bao gồm: Một là, làm rõ khái niệm về chính sách, chính sách thu hút đầu tư Hai là, làm rõ một số cơ sở lý luận quan trọng có thể vận dụng khi nghiên cứu về điều chỉnh chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam sau khi gia nhập WTO.
Khái niệm về chính sách thu hút đầu tư nước ngoài - Khái niệm chính sách - Thuật ngữ “chính sách” được sử dụng phổ biến trên các loại ấn phẩm, sách báo, phương tiện thông tin và được nhắc tới một cách thường xuyên trong hầu hết các hoạt động đời sống kinh tế, xã hội. Sự hiểu biết chung của chúng ta cho thấy mọi chủ thể kinh tế - xã hội đều có những “chính sách” của mình nhưng để có thể xác định cụ thể chính sách là gì thì mỗi bối cảnh cụ thể lại đưa đến những diễn giải khác nhau về khái niệm chính sách. Điều đó có nghĩa là trên thực tế không thể có một khái niệm cụ thể và cố định có thể làm rõ và toàn diện về nội hàm của thuật ngữ chính sách. Mặc dù vậy, 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lựa chọn của luận văn về khái niệm này đi theo những nội hàm mang tính phổ biến, được sử dụng rộng rãi và phù hợp với việc nghiên cứu về điều chỉnh chính sách của Việt Nam.
Chính sách là “những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ; được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tuỳ thuộc tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Muốn định ra chính sách đúng phải căn cứ vào tình hình thực tiễn trong từng lĩnh vực, từng giai đoạn, phải vừa giữ vững mục tiêu, phương hướng được xác định trong đường lối, nhiệm vụ chung, vừa linh hoạt vận dụng vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể” [Từ điển Bách khoa tòan thƣ, http://dictionary.vn] Chính sách xác định những chỉ dẫn chung cho quá trình đưa ra quyết định. Chúng vạch ra phạm vi hay giới hạn cho phép của các quyết định, nhắc nhở các nhà quản lý những quyết định nào có thể và những quyết định nào là không thể.
Bằng cách đó, các chính sách hướng suy nghĩ và hành động của mọi thành viên trong tổ chức vào việc thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức. - Khái niệm chính sách đầu tư và chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư Trên cơ sở đã xác định cụ thể về khái niệm chính sách nói chung đã nêu ở trên, có thể cụ thể hóa chính sách đó vào trong một lĩnh vực riêng biệt là lĩnh vực thu hút đầu tư (gồm cả thu hút đầu tư nước ngoài và trong nước). Khái niệm chính sách đầu tư được lựa chọn như sau: Chính sách đầu tư là một hệ thống những nguyên tắc, công cụ, biện pháp do Nhà nước sử dụng để điều tiết các mối quan hệ trong lĩnh vực đầu tư. Chính sách đầu tư chịu ảnh hưởng của chính sách kinh tế - xã hội của quốc gia và phục vụ những nhiệm vụ Nhà nước đặt ra trong từng giai đoạn.
Các chính sách ưu đãi, khuyến khích về đầu tư được hiểu là Nhà nước ban hành các quy định nhằm tạo điều kiện hoặc tạo ra những lợi ích nhất định cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài khi tiến hành đầu tư vào nền kinh tế, trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước, của nền kinh tế xã hội và của nhà đầu tư. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trước năm 2005, hệ thống pháp luật về đầu tư của Việt Nam được chia thành hai lĩnh vực điều chỉnh chính bao gồm các hoạt động đầu tư trong nước và các hoạt động đầu tư nước ngoài. Chính sách khuyến khích đầu tư trong nước là việc Nhà nước quy định các điều kiện thuận lợi hơn cho nhà đầu tư trong nước khi các đối tượng này tiến hành đầu tư vào những địa bàn, lĩnh vực nằm trong danh mục khuyến khích của Nhà nước. Mức độ ưu đãi đối với nhà đầu tư đó được nhìn nhận trong tương quan so sánh với điều kiện đầu tư của các nhà đầu tư khác hoặc chính những nhà đầu tư đó khi đầu tư vào những dự án nằm ngoài danh mục khuyến khích đầu tư.
Chính sách khuyến khích ưu đãi đầu tư nước ngoài được hiểu là việc nước tiếp nhận đầu tư ban hành các quy định mà thông qua đó dành cho các nhà đầu tư là người nước ngoài hoặc công dân nước sở tại cư trú ở nước ngoài những ưu đãi khi những đối tượng này tiến hành hoạt động đầu tư ở nước tiếp nhận đầu tư. Những ưu đãi này có thể liên quan đến thủ tục hành chính, các chính sách tài chính, sử dụng đất, sử dụng các nguồn tài nguyên và các ưu đãi khác theo hướng có lợi cho nhà đầu tư. Đối với các quy định của Nhà nước khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài, mức độ thuân lợi và ưu đãi trong mỗi biện pháp, chính sách khuyến khích được đánh giá trong tương quan so sánh với các quy định dành cho các nhà đầu tư trong nước khi đầu tư vào cùng lĩnh vực hoặc địa bàn nhất định hoặc trong tương quan so sánh với các quy định về đầu tư nước ngoài của các nước khác trong khu vực hoặc trên thế giới Khuyến khích đầu tư thể hiện thái độ của nước tiếp nhận đầu tư đối với các nhà đầu tư nước ngoài, số lượng các biện pháp khuyến khích mà Nhà nước quy định tỷ lệ thuận với mức độ mong muốn được hấp thụ nguồn vốn đầu tư lớn từ các nhà đầu tư nước ngoài của nước tiếp nhận đầu tư. Luật đầu tư được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 đã thể hiện tư tưởng thống nhất mới về các hoạt động đầu tư theo đó, các hoạt động về đầu tư không còn phân loại thành hoạt động 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đầu tư trong nước và hoạt động đầu tư nước ngoài.
Tất cả các dự án đều chịu sự điều chỉnh của luât đầu tư chung, các dự án này đều được hưởng các biện pháp khuyến khích đầu tư như nhau nếu đó là các dự án có mục đích kinh doanh, do các chủ thể đầu tư tại Việt Nam. Luật đầu tư chung năm 2005 của Việt Nam lấy tiêu chí lĩnh vực đầu tư và địa bàn đầu tư là những tiêu chí cơ bản để áp dụng các biện pháp khuyến khích đầu tư và trên cơ sở đó nhà nước Việt Nam ban hành các quy định xác định các ưu đãi cũng như hỗ trợ đầu tư cụ thể. - Các loại chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài Chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của các nước có những điểm tương đồng đặc biệt là những nguyên tắc có tính chất nền tảng như nguyên tắc không phân biệt đối xử, nguyên tắc minh bạch hoá và có thể dự đoán…Đồng thời, các điểm tương đồng còn thể hiện ở mục tiêu thu hút vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý nước ngoài, giải quyết tình trạng cán cân thanh toán bị thâm hụt, nâng cấp cơ sở hạ tầng, thúc đẩy xuất khẩu, phát triển các ngành công nghiệp nội địa. Tuỳ điều kiện đặc thù của từng nước mà các công cụ sử dụng có thể khác nhau.