phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự trƣớc yêu cầu cải cách tƣ pháp. Chƣơng 2: Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện hành. Chƣơng 3: Thực tiễn thực hiện các quy định về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự và kiến nghị 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ TRƢỚC YÊU CẦU CẢI CÁCH TƢ PHÁP 1. Khái quát về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự 1.
Khái niệm Thẩm phán, địa vị pháp lý của Thẩm phán 1. Khái niệm Thẩm phán Ở nƣớc ta, các thiết chế tổ chức có chức năng phát hiện, điều tra, truy tố xét xử ngƣời vi phạm là cơ quan điều tra, VKS, Tòa án nhân dân. Theo quy định tại Điều 102 Hiến pháp năm 2013 thì “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con ngƣời, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nƣớc và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Xét xử đƣợc hiểu là “hoạt động do Tòa án thực hiện để xem xét và giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, lao động, kinh tế với việc tuân thủ nghiêm ngặt các đòi hỏi của pháp luật và trật tự pháp luật, có tính lập luận công bằng và có ý nghĩa bắt buộc chung” [37, tr 45].
Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định việc xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trƣờng hợp xét xử theo thủ tục rút gọn. Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm. Theo quy định tại Điều 105 của Hiến pháp 2013 thì việc bổ nhiệm , phê chuẩ n , miễn nhiệm, cách chức, nhiệm kỳ của Thẩm phán .do luật định. Vị trí độc lập của Thẩm phán đƣợc tiếp tục ghi nhận trong Điều 9 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.
Theo đó, Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm dƣới bất kỳ hình thức nào. Cá nhân, cơ quan tổ chức có hành vi can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm thì tùy theo tính chất, mức 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Việc nghiên cứu cũng cho thấy sự tách bạch và độc lập giữa Tòa án ra khỏi hai nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp đã hình thành nên một đội ngũ cán bộ mới trong bộ máy nhà nƣớc làm nhiệm vụ xét xử từ trƣớc đến nay đó là Thẩm phán [10, tr 16]. Theo đó, Thẩm phán là một chức danh thuộc bộ máy tƣ pháp thực hiện quyền lực nhà nƣớc trong lĩnh vực tƣ pháp, trong đó có tƣ pháp dân sự.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có nhiều định nghĩa về Thẩm phán, trong đó có cả định nghĩa đƣợc các nhà nghiên cứu thực hiện trong các công trình nghiên cứu và cả định nghĩa đƣợc thể hiện trong các văn bản pháp luật. Chẳng hạn nhƣ, “Thẩm phán là một chức danh Nhà nước trong hệ thống Tòa án các cấp” [33]. Tác giả Đỗ Gia Thƣ cho rằng “Thẩm phán là người làm việc trong cơ quan Tòa án, chuyên xét xử các vụ án và giải quyết các vụ việc theo thẩm quyền của Tòa án, ra bản án, quyết định nhân danh Nhà nước” [10, tr 17]. Nghiên cứu các văn bản pháp luật cho thấy thuật ngữ này cũng đã đƣợc thể hiện tại Điều 1 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002.
Theo đó, “Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án” [36]. Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và Hội thẩm nhân dân 2014 quy định định nghĩa “Thẩm phán là người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của Luật này được Chủ tịch nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ xét xử”. Theo khái niệm này thì Thẩm phán phải có đủ điều kiện và tiêu chuẩn và đƣợc Chủ tịch nƣớc bổ nhiệm theo thủ tục do pháp luật quy định. Điều này có nghĩa là chức danh Thẩm phán phải do ngƣời đứng đầu Nhà nƣớc bổ nhiệm chứ không phải là ngƣời đứng đầu ngành Tòa án có thẩm quyền quyết định, nhiệm vụ chính mà Thẩm phán đƣợc giao là xét xử.
Theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 thì tƣơng ứng với ba cấp Tòa án có ba ngạch Thẩm phán tƣơng ứng và thẩm quyền bổ nhiệm đối với các 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngạch Thẩm phán này cũng khác nhau. Và để đƣợc bổ nhiệm làm Thẩm phán thì cán bộ Tòa án phải đáp ứng những điều kiện và tiêu chuẩn về bổ nhiệm Thẩm phán do pháp luật quy định. Địa vị pháp lý của Thẩm phán Theo từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Nhƣ Ý chủ biên thì “địa vị” đƣợc hiểu là “vị trí, chỗ xứng đáng với vai trò tác dụng có đƣợc hay vị trí chỗ đứng của cá nhân trong xã hội” [16]. Luật Dân sự đã quy định cho cá nhân có các quyền nhƣ quyền nhân thân gắn với tài sản và không gắn với tài sản; quyền sở hữu, quyền gắn với tài sản và không gắn với tài sản; quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản và quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó.
Những nội dung này đƣợc coi là năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự của các chủ thể. Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý thì đó đƣợc coi là “địa vị pháp lý. Địa vị pháp lý đó là tƣ cách của cá nhân, pháp nhân, tổ chức hay các chủ thể khác khi tham gia vào một hoặc nhiều quan hệ pháp luật nhất định. Nó thể hiện vị trí, vai trò của chủ thể đó trong quan hệ pháp luật và đi liền với nó là quyền lợi, nghĩa vụ cũng nhƣ trách nhiệm pháp lý phát sinh; là nền tảng để xác định quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi ngƣời và cũng là điểm xuất phát để gỡ rối tranh chấp trong tố tụng.
Chính vì vậy, theo tác giả luận văn, địa vị pháp lý được hiểu đó là vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mỗi chủ thể trong một hay nhiều quan hệ nhất định. Nói đến Thẩm phán trƣớc hết phải hiểu đó là ngƣời - chuyên hành nghề xét xử. Công việc xét xử của Thẩm phán đƣợc coi là một nghề - nghề có tính đặc thù. Bởi lẽ, chỉ có Tòa án mới có chức năng xét xử.
Tính đặc thù nghề nghiệp của Thẩm phán đƣợc thể hiện ở chỗ: Nghề này có ảnh hƣởng lớn đến tính công minh của pháp luật, uy tín về nền công lý của một quốc gia, lao động của Thẩm phán chính là lao động trí óc, đầy khó khăn phức tạp dƣới sự giám sát nghiêm ngặt của xã hội và công dân. Thẩm phán là ngƣời đại diện cho Nhà nƣớc trực 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tiếp áp dụng pháp luật, do vậy, sự công bằng, khách quan và độc lập khi tiến hành tố tụng là không thể thiếu đƣợc của ngƣời Thẩm phán, hoạt động của Thẩm phán gắn liền với việc áp dụng các biện pháp cƣỡng chế liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân, tổ chức. Thẩm phán hoạt động theo một trình tự pháp lý chặt chẽ đƣợc quy định trong pháp luật tố tụng dân sự; khi xét xử, Hội đồng xét xử nhân danh Nhà nƣớc để ra bản án hoặc quyết định. Nhƣ vậy, theo tác giả luận văn, địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự được hiểu là tổng thể các vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được pháp luật tố tụng dân sự trao cho họ khi thực hiện các hoạt động tố tụng nhân danh Nhà nước và các hoạt động khác trong lĩnh vực tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án.
Tuy nhiên, chúng ta cần phân biệt địa vị pháp lý của Thẩm phán với tƣ cách là một chức danh đƣợc nhân danh nhà nƣớc với địa vị pháp lý của ngƣời Thẩm phán khi họ với tƣ cách là một công dân, cán bộ, công chức nhà nƣớc. Dƣới góc độ của một công dân, Thẩm phán cũng có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của một công dân đƣợc pháp luật hiện hành quy định. Quyền và nghĩa vụ này đƣợc quy định cụ thể trong Hiến pháp – văn bản có giá trị pháp lý cao nhất. Ví dụ: Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc” (Điều 35); “Mọi ngƣời có quyền đƣợc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh” (Điều 38); … thì Thẩm phán cũng có các quyền và nghĩa vụ đó.
Dƣới góc độ là một cán bộ, công chức nhà nƣớc, Thẩm phán đƣợc hƣởng các quyền và phải chịu các nghĩa vụ của một cán bộ, công chức nhà nƣớc theo Luật cán bộ, công chức quy định. Tuy nhiên, không phải mọi quyền và nghĩa vụ của cán bộ, công chức nhà nƣớc đều đƣợc áp dụng cho Thẩm phán vì xuất phát từ chính tính đặc thù của nghề nghiệp mà Thẩm phán đảm nhiệm. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 đã quy định quyền và nghĩa vụ riêng biệt của ngƣời Thẩm phán phù hợp với nghề nghiệp của Thẩm 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Ví dụ: Thẩm phán không đƣợc “Tƣ vấn cho bị can, bị cáo, đƣơng sự hoặc ngƣời tham gia tố tụng khác làm cho việc giải quyết vụ án hoặc những việc khác không đúng quy định của pháp luật” (khoản 2 Điều 77 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014).
Vị trí, chức năng của Thẩm phán trong tố tụng dân sự 1.