Chương 1: Tổng quan về địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài và thị trường chứng khoán Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Chương 3: Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thị trường chứng khoán và địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán. Mỗi chương được kết thành các tiểu mục nhỏ hơn để đi sâu phân tích chi tiết các nội dung. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I TỔNG QUAN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI VÀ THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN 1. Địa vị pháp lý của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài 1.
Khái niệm nhà đầu tƣ nƣớc ngoài Nhà đầu tư nước ngoài có thể là tổ chức, cá nhân người nước ngoài. Ngƣời nƣớc ngoài Ngày nay, trong quá trình hội nhập quốc tế, việc công dân của quốc gia này sinh sống và làm ăn ở quốc gia khác là hiện tượng khách quan và ngày càng phổ biến. Việc nghiên cứu địa vị pháp lý của người nước ngoài, trước hết cần phải tìm hiểu khái niệm “ người nước ngoài”, đã được hình thành trong khoa học pháp lý quốc gia và quốc tế. Hiện nay, thuật ngữ “ người nước ngoài” thường được hiểu một cách như sau: - Người mang một quốc tịch nước ngoài - Người mang nhiều quốc tịch nước ngoài - Người không mang quốc tịch nước nào Ngoài ra, thuật ngữ người nước ngoài còn được hiểu là chỉ là công dân nước ngoài [ 10, trang 73] Trong pháp luật của phần lớn các nước trên thế giới, quốc tịch là dấu hiệu để định nghĩa, xác định người nước ngoài.
Về nguyên tắc, người nước ngoài là người không mang quốc tịch nước, nơi họ đang cư trú- tức họ không là công dân nước sở tại. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Pháp luật Việt Nam hiện hành cũng xác định người nước ngoài theo cách trên. Cụ thể, tại điểm 5, điều 3, Luật Quốc tịch 2009 quy định “ Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam là công dân nước ngoài và người không quốc tịch thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam ”. Theo quy định tại điều 3, Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam quy định : “ Người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam”.
Như vậy, người nước ngoài tại Việt Nam có thể hiểu là: - Là người không có quốc tịch Việt Nam - Họ có thể cư trú trên lãnh thổ Việt Nam, hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam. Tổ chức nƣớc ngoài Tổ chức nước ngoài với tư cách là chủ thể của Tư pháp quốc tế tham gia các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài có thể là pháp nhân nước ngoài, các quốc gia, tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ. Tuy nhiên, pháp nhân là tổ chức nước ngoài chủ yếu, phổ biến nhất khi tham gia quan hệ Tư pháp quốc tế. Pháp nhân là một tổ chức nhất định của con người, được pháp luật quy định có quyền năng chủ thể.
Không phải tổ chức nào cũng là pháp nhân. Chỉ những tổ chức được thành lập theo trình tự thủ tục và có đủ điều kiện do Nhà nước quy định hoặc tồn tại trên thực tế được Nhà nước công nhận mới có tư cách pháp nhân [10, trang 94] Theo pháp luật Việt Nam, điều 84 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “ Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: 1. Ðược thành lập hợp pháp; 2. Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; 4. Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập” Pháp nhân được thành lập theo pháp luật của một nước nhất định. Tức là việc công nhận một tổ chức có tư cách pháp nhân phải dựa trên cơ sở pháp luật của một nước nhất định. Thông thường một tổ chức được công nhận có tư cách pháp nhân ở nước nó được thành lập thì cũng được công nhận có tư cách pháp nhân ở các nước khác.
Đối với Việt Nam, pháp nhân nước ngoài là tổ chức hưởng tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật nước ngoài và được công nhận là có quốc tịch nước ngoài. Liên quan đến pháp nhân nước ngoài là vấn đề quốc tịch và xác định quốc tịch của pháp nhân. Quốc tịch của pháp nhân là mối liên hệ pháp lý đặc biệt và vững chắc giữa pháp nhân với một nhà nước nhất định. Mối quan hệ pháp lý đặc biệt đó thể hiện ở chỗ tổ chức hưởng tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật nhà nước đó; khi hoạt động ở nước ngoài, pháp nhân được nhà nước bảo hộ về mặt ngoại giao; việc hợp nhất, sáp nhập, chia tách giải thể, chấm dứt pháp nhân và thanh lý, giải quyết vấn đề tài sản trong các trường hợp này của pháp nhân phải tuân theo quy định của nhà nước mà pháp nhân mang quốc tịch.
Việc xác định quốc tịch của pháp nhân tạo cơ sở xác định nội dung quy chế pháp lý của pháp nhân, góp phần kiểm soát các hoạt động của pháp nhân, bảo vệ an ninh, chủ quyền và lợi ích kinh tế xã hội của nhà nước nơi pháp nhân đặt trụ sở hoặc hoạt động. Vấn đề xác định quốc tịch của pháp nhân đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn hội nhập quốc tế mạnh mẽ hiện nay. Pháp luật các quốc gia có quy định khác nhau về vấn đề xác định quốc tịch của pháp nhân 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Pháp luật của Pháp, Đức và của nhiều nước khác, pháp nhân đặt trung tâm quản lý ở nước nào thì mang quốc tịch nước đó, không phân biệt nơi đăng ký thành lập hay tiến hành hoạt động của pháp nhân. Pháp luật của Anh, Mỹ xác đinh quốc tịch của pháp nhân theo nơi đăng ký điều lệ của pháp nhân khi thành lập.
Pháp luật của các nước như Ai cập, Xi ri lại áp dụng nguyên tắc quốc tịch của pháp nhân tuỳ thuộc vào nơi đặt trung tâm hoạt động của pháp nhân. Ở Nga và các nước Đông Âu, áp dụng cả hai nguyên tắc: Quốc tịch pháp nhân tuỳ thuộc vào nơi thành lập pháp nhân và nơi đặt trụ sở chính của pháp nhân. Pháp luật Việt Nam không có quy định nguyên tắc xác định quốc tịch của pháp nhân. Tuy nhiên, điều 765 Bộ luật dân sự 2005, đã quy định về năng lực pháp luật của pháp nhân như sau: “Ðiều 765.
Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài 1. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân đó được thành lập, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Ðiều này. Trong trường hợp pháp nhân nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân được xác định theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Một quy định rõ hơn về quốc tịch pháp nhân tại Việt Nam là: Khoản 20, điều 4, Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: “ Quốc tịch của doanh nghiệp là quốc tich của nước và vùng lãnh thổ nơi doanh nghiệp thành lập, đăng ký kinh doanh”. Tuy nhiên quy định này chỉ bao gồm các doanh nghiệp mà không phải tất cả các pháp nhân.
Như vậy pháp luật Việt Nam đã gián tiếp thừa nhận nguyên tắc xác định 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quốc tịch của pháp nhân tuỳ thuộc vào nước, nơi pháp nhân được thành lập. Theo tinh thần này thì các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập tại Việt Nam là pháp nhân mang quốc tịch Việt Nam. Những pháp nhân không mang quốc tịch Việt Nam đều được coi là pháp nhân nước ngoài. Nhà đầu tƣ nƣớc ngoài 1.
Vai trò của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài Qúa trình hội nhập kinh tế trên thế giới đã tạo điều kiện để các nhà đầu tư tiến hành đầu tư bên ngoài lãnh thổ của quốc gia mình. Đối với quốc gia sở tại, họ là những nhà đầu tư nước ngoài. Ngày nay, vai trò của các nhà đầu tư nước ngoài ngày càng trở nên quan trọng, họ là lực lượng tổ chức phân công lao động trên phạm vi thế giới, là lực lượng phát huy có hiệu quả lợi thế so sánh của các quốc gia; thúc đẩy dòng vốn vận động trên toàn cầu và đóng góp quan trọng cho sự phát tiển của một số quốc gia. Việt Nam là quốc gia đang phát triển, nhu cầu vốn để phát triển đất nước là rất nhiều nên việc tận dụng nguồn vốn từ bên ngoài của các nhà đầu tư nước ngoài luôn được khuyến khích.
Nhà nước luôn có chính sách ưu đãi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Thực tế cho thấy khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong những năm qua đóng góp khoảng 20% GDP, 30% xuất khẩu của Việt Nam [ tổng hợp từ các báo cáo phát triển kinh tế xã hội hàng năm của Chính phủ giai đoạn 2000 đến 2009 ]. Bên cạnh những tác động tích cực thì đầu tư nước ngoài nhất là đầu tư gián tiếp có thể tạo ra bong bong tài chính ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái của các quốc gia. Bài học từ Khủng hoảng tài chính 1997 tại châu Á là một minh chứng cho tác động này 1.
Những khái niệm liên quan đến đầu tƣ Dưới góc độ kinh tế học vĩ mô: Đầu tư, chỉ việc gia tăng vốn ( capital) nhằm tăng cường năng lực sản xuất tương lai. Đầu tư, vì thế, còn được gọi là hình thành vốn hoặc tích lũy vốn. Tuy nhiên, chỉ có tăng tư bản làm tăng năng 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lực sản xuất vật chất mới được tính. Còn tăng vốn trong lĩnh vực tài chính tiền tệ và kinh doanh bất động sản bị loại trừ.
Việc gia tăng vốn tư nhân (tăng thiết bị sản xuất) được gọi là đầu tư tư nhân. Việc gia tăng vốn xã hội được gọi là đầu tư công cộng [http:// www.com] Dưới góc độ tài chính: Đầu tư tài chính là một hình thức đầu tư chủ yếu thông qua hình thức mua chứng khoán, trái phiếu hoặc các công cụ tài chính khác. Nhà đầu tư tài chính thông thường chỉ nhắm vào mục đích mua và bán chứ ít làm tăng giá trị thực của công ty mà họ đầu tư vào.