Luận văn: Dạy học tích cực Công nghệ 10 tại THPT Võ Trường Toản, Đồng Nai

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu áp dụng các phương pháp dạy học tích cực cho môn Công nghệ 10, phân tích thực trạng và kết quả tại THPT Võ Trường Toản.

Chuyên ngành

Giáo dục học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

156
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và ý nghĩa của dạy học tích cực môn Công nghệ 10

Dạy học tích cực là phương pháp giáo dục hiện đại nhằm lấy người học làm trung tâm, thay vì chỉ truyền thụ một chiều từ giáo viên. Trong môn Công nghệ 10, phương pháp này khuyến khích học sinh tích cực tham gia vào quá trình học tập, phát hiện kiến thức và ứng dụng thực tiễn. Điều này đặc biệt quan trọng vì học sinh vùng nông thôn đã có nền tảng kiến thức cơ bản về nông, lâm, ngư, nghiệp. Mục tiêu chính là giúp học sinh phát huy tính tích cực, rèn luyện kỹ năng tự học và áp dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống. Phương pháp này không chỉ nâng cao hiệu quả dạy học mà còn phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh.

1.1. Định nghĩa dạy học tích cực

Dạy học tích cực là quá trình tổ chức các hoạt động học tập sao cho học sinh không phải là những người thụ động tiếp nhận kiến thức, mà là những người chủ động khám phá, xây dựng và vận dụng kiến thức. Giáo viên lúc này trở thành người hướng dẫn, tạo điều kiện để học sinh tự tìm tòi, tự khám phá các quy luật và nguyên lý trong môn Công nghệ.

1.2. Ý nghĩa thực tiễn trong giáo dục

Phương pháp này giúp nâng cao hiệu quả học tập của học sinh, phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề thực tế, và tạo niềm hứng thú học tập. Đối với môn Công nghệ 10, học sinh có cơ hội vận dụng kiến thức trực tiếp vào các hoạt động thực hành, qua đó hiểu sâu hơn về ứng dụng công nghệ trong đời sống.

II. Các phương pháp dạy học tích cực cho môn Công nghệ 10

Để triển khai dạy học tích cực hiệu quả, giáo viên cần áp dụng các phương pháp đa dạng và phù hợp với nội dung môn Công nghệ 10. Các phương pháp chính bao gồm: thảo luận nhóm, dạy thực hành, và giải quyết vấn đề. Mỗi phương pháp có mục tiêu riêng nhưng đều hướng tới việc kích thích tính tích cực và hứng thú học tập của học sinh. Việc kết hợp linh hoạt các phương pháp này sẽ tạo ra những tiết học sinh động, hấp dẫn và có hiệu quả cao. Giáo viên cần thực hiện những kỹ thuật tác động phù hợp để phát huy tính tích cực của từng học sinh.

2.1. Phương pháp thảo luận nhóm

Thảo luận nhóm là hoạt động mà học sinh chia thành các nhóm nhỏ để cùng nhau trao đổi, tranh luận về các vấn đề liên quan đến nội dung Công nghệ 10. Phương pháp này giúp học sinh phát triển kỹ năng giao tiếp, lắng nghe ý kiến bạn, và xây dựng đồng thuận. Qua thảo luận nhóm, học sinh sẽ hiểu sâu hơn về kiến thức, đồng thời phát triển năng lực làm việc nhóm.

2.2. Phương pháp dạy thực hành

Dạy thực hành là cách để học sinh trực tiếp trải nghiệm, thực hiện các bài tập, dự án liên quan đến công nghệ. Trong môn Công nghệ 10, học sinh có cơ hội tham gia các hoạt động thực hành như sử dụng các công cụ, máy móc, hoặc giải quyết các vấn đề thực tế. Phương pháp này giúp học sinh hiểu rõ hơn về ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn.

2.3. Phương pháp giải quyết vấn đề

Giải quyết vấn đề là phương pháp mà giáo viên đặt ra các tình huống, bài toán thực tế liên quan đến Công nghệ 10, yêu cầu học sinh suy nghĩ, tìm cách giải quyết. Điều này khuyến khích tư duy sáng tạo, phát triển năng lực phân tích và đưa ra các giải pháp thực tiễn.

III. Thực trạng dạy học Công nghệ 10 tại các trường THPT

Mặc dù phương pháp dạy học tích cực được khuyến khích trong gần 10 năm qua, nhưng thực trạng dạy học Công nghệ 10 tại nhiều trường THPT, đặc biệt là trường THPT Võ Trường Toản tỉnh Đồng Nai, vẫn còn nhiều hạn chế. Trang thiết bị dạy học chưa đủ đáp ứng yêu cầu, nhiều giáo viên vẫn sử dụng phương pháp dạy học truyền thống, khiến học sinh mang tính chất thụ động. Điều này dẫn đến hiệu quả học tập không cao, học sinh khó lĩnh hội kiến thức và áp dụng vào thực tế. Đội ngũ giáo viên cần được đào tạo thêm về các kỹ thuật dạy học tích cực để có thể thay đổi phương pháp giảng dạy.

3.1. Hạn chế về trang thiết bị và cơ sở vật chất

Nhiều trường THPT chưa có đủ trang thiết bị dạy học hiện đại để hỗ trợ dạy học tích cực. Phòng thực hành công nghệ còn thiếu thiết bị, công cụ cần thiết. Việc thiếu tài nguyên này khiến giáo viên khó tổ chức các hoạt động thực hành, thảo luận nhóm hiệu quả cho học sinh.

3.2. Thực trạng phương pháp dạy học của giáo viên

Nhiều giáo viên Công nghệ 10 vẫn áp dụng phương pháp dạy học truyền thống, tập trung vào việc truyền đạt kiến thức một chiều. Học sinh ít có cơ hội tham gia hoạt động tích cực, khám phá kiến thức của riêng mình. Điều này dẫn đến tình trạng học sinh mang tính thụ động, không phát triển được năng lực tự học.

IV. Giải pháp và kết quả thực nghiệm áp dụng dạy học tích cực

Để cải thiện thực trạng, cần áp dụng phương pháp dạy học theo định hướng tích cực hóa người học một cách toàn diện. Giải pháp bao gồm: (1) Đổi mới các phương pháp dạy học bằng cách tổ chức các hoạt động nhóm, thực hành, giải quyết vấn đề; (2) Đổi mới đánh giá kết quả học tập để khuyến khích học sinh tích cực; (3) Trang bị kiến thức và kỹ năng cho giáo viên về dạy học tích cực; (4) Cải thiện cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học. Thực nghiệm tại trường THPT Võ Trường Toản đã cho thấy kết quả khích lệ: học sinh tham gia hoạt động tích cực hơn, hiểu bài sâu hơn, khả năng tự học được nâng cao.

4.1. Thiết kế và triển khai tiết dạy học tích cực

Một tiết dạy học tích cực cần được chuẩn bị kỹ lưỡng với các khâu: xác định mục tiêu rõ ràng, lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp, chuẩn bị tài liệu và thiết bị, tổ chức hoạt động cho học sinh. Quá trình thực hiện tiết dạy cần linh hoạt, khuyến khích tính tích cực của học sinh thông qua các kỹ thuật dạy học hiệu quả.

4.2. Kết quả và hiệu quả thực nghiệm

Sau khi áp dụng phương pháp dạy học tích cực hóa người học cho Công nghệ 10, học sinh cho thấy mức độ hứng thú cao hơn, tham gia hoạt động tích cực hơn, và kết quả học tập được cải thiện đáng kể. Học sinh phát triển được kỹ năng tư duy phê phán, khám phá kiến thức và ứng dụng nó vào các tình huống thực tế. Thực nghiệm này chứng minh tính hiệu quả của dạy học tích cực trong nâng cao chất lượng giáo dục.

22/12/2025
Luận văn thạc sĩ áp dụng phương pháp dạy học theo định hướng tích cực hóa người học cho môn công nghệ 10 tại trường trung học phổ thông võ trường toản tỉnh đồng nai

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng I: Cơ sở lý luận về dạy học theo hƣớng tích cực hóa ngƣời học Chƣơng II: Thực trạng dạy học môn Công Nghệ tại trƣờng THPT Võ Trƣờng Toản, tỉnh Đồng Nai Chƣơng III: Kết quả thực nghiệm áp dụng phƣơng pháp dạy học theo định hƣớng tích cực hóa ngƣời học môn Công Nghệ 10 tại trƣờng THPT Võ Trƣờng Toản, tỉnh Đồng Nai 6 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Lịch sử vấn đề tích cực hóa ngƣời học 1. Trên thế giới Ở Phƣơng Đông, Khổng Tử (551-479 TCN) đã đề cao phƣơng pháp dạy học phân hóa. Ông chia dạy học làm hai phần, một phần tâm truyền và một phần công truyền.

Phần công truyền nói về luân thƣờng đạo lý để dạy mọi ngƣời, phần tâm truyền nói về sự cao xa khó hiểu hơn để dạy riêng cho những ngƣời có tƣ chất đặc biệt. Ông nhấn mạnh mỗi ngƣời phải tự mình học tập để lĩnh hội lấy kiến thức chứ không phải qua giảng giải nhiều lời của thầy giáo. Ông đòi hỏi sự nổ lực cao của từng cá nhân và yêu cầu thầy giáo phải tùy vào đặc điểm của từng ngƣời mà tìm cách dạy cho phù hợp [23] Ở phƣơng Tây xuất hiện nhiều nhà giáo dục có tƣ tƣởng tiến bộ đã chú ý đến dạy học hƣớng vào ngƣời học, khai thác tiềm năng của mỗi cá nhân học sinh. Education is not the filling of a pail, but lighting of a fire.

(William Butter Yeats) Giáo dục không phải là nhồi nhét kiến thức mà là thắp lên niềm đam mê. Phƣơng pháp dạy truyền thống và yêu cầu đổi mới Phƣơng pháp dạy học truyền thống là phƣơng pháp mà trong đó chủ yếu là thầy nói – trò nghe. Ngay tận thập niên 1990, phƣơng pháp này vẫn đang chi phối mạnh ở các trƣờng trung học, cao đẳng và đại học, kể cả ở Hoa Kỳ. Học sinh thƣờng phải ngồi nghe liên tục trong một khoảng thời gian dài và học tập theo cách mà Freire gọi là “giáo dục kiểu ngân hàng”.

Trong phƣơng pháp này, giáo viên dạy và học sinh đƣợc dạy; giáo viên biết mọi thứ và học sinh không biết gì; giáo viên suy nghĩ và học sinh buộc phải nghĩ theo cách của giáo viên; giáo viên nói và học sinh lắng nghe; giáo viên quyết định (chọn lựa) và học sinh phải làm theo. Nhìn chung, giáo viên là chủ thể còn học sinh là khách thể của quá trình dạy – học. Giáo viên quan tâm trƣớc hết đến việc truyền đạt kiến thức, hƣớng đến mục tiêu làm cho học sinh hiểu và ghi nhớ kiến thức. Phƣơng pháp này ít quan tâm đến việc phát triển tƣ duy, huấn luyện kỹ năng và rèn luyện thái độ cho ngƣời học.

Nó dẫn đến tình trạng hầu hết học sinh học tập thụ động, ra trƣờng không đáp ứng tốt yêu cầu công việc. 7 Chickering và Gamson (1987) cho rằng để học tốt thì ngƣời học cần phải làm nhiều việc hơn là chỉ nghe một cách thụ động, cụ thể là phải đọc, viết, thảo luận, hoặc tham gia giải quyết vấn đề. Tƣơng tự nhƣ vậy, khi nghiên cứu tất cả các cấp độ học, Freire thấy rằng học sinh học và giữ lại kiến thức nhiều hơn khi họ đóng vai trò thực sự trong quá trình và có cơ hội để nói, chia sẻ, tƣơng tác, phản hồi,… Theo John Goodland, việc học tập mang tính hàn lâm là quá trừu tƣợng đối với hầu hết học sinh, nên muốn học tốt thì học sinh cần đƣợc “thấy, sờ, và ngửi” cái mà họ đọc và viết. Còn Victor Weisskop thì cho rằng con ngƣời không thể học đƣợc bằng cách mang thông tin đẩy vào não họ, do đó chúng ta chỉ có thể dạy bằng cách duy nhất là tạo ra động lực hiểu biết.

Thực vậy, công trình nghiên cứu của Russell, Hendricson và Herbert (1984) chỉ ra rằng: học sinh học và lƣu lại thông tin bài giảng tốt hơn khi mật độ thông tin cung cấp ở mức thấp (so với mức trung bình và mức cao trong thí nghiệm). Hàm ý ở đây là lƣợng thông tin mới mà học sinh có thể học đƣợc trong một khoảng thời gian là có giới hạn, và chính giáo viên phá vỡ mục đích của mình khi vƣợt quá giới hạn đó. Tiếp theo là công trình nghiên cứu nổi tiếng của Ruhl, Hughes, và Schloss (1987) đã đi đến một kết luận bất ngờ: nếu giáo viên nói ít thì học sinh có thể học đƣợc nhiều hơn!. Phát hiện này hoàn toàn trái ngƣợc với niềm tin của hầu hết giáo viên khi cho rằng việc học của học sinh sẽ tốt hơn nếu giáo viên nói nhiều và cung cấp nhiều thông tin hơn.1: Mức độ tập trung trong 60 phút học Nếu xét về mức độ tập trung chú ý của học sinh, công trình nghiên cứu của Wilbert Mc Keachie cho thấy: dạy học theo phƣơng pháp tích cực thì độ tập trung chú ý giữ ở mức cao (75%) suốt 60 phút.

Trong khi đó, dạy học theo phƣơng pháp một chiều, thầy đọc, trò chép thì độ tập trung chỉ đạt mức cao (75%) trong vòng 20 phút, sau đó sẽ giảm dần một cách nhanh chóng (biểu đồ 1. Nhƣ vậy, với lối dạy học truyền thống, chúng ta đang đi ngƣợc lại mục tiêu của chính mình bởi lẽ giáo viên nói quá nhiều làm cho học sinh học đƣợc quá ít. Trong những lớp học đông học sinh, theo kết quả nghiên cứu của Lewis và Woodward (1984) thì giáo viên nói đến hơn 88% thời gian trên lớp, sự im lặng chiếm hơn 6%, và thời gian dành cho học sinh nói chỉ chiếm hơn 5%. Điều này thuyết phục chúng ta cần phải nhanh chóng thực hiện phƣơng pháp dạy học theo định hƣớng tích cực: giáo viên nói ít hơn và học sinh làm nhiều hơn.2: Hiệu quả học tập-foundationcoalition Phƣơng pháp dạy học sẽ giúp nâng cao hiệu quả tiếp thu kiến thức nhờ vào sự tƣơng tác và đa dạng hóa các loại hình hoạt động.

Lƣu giữ kiến thức là yếu tố quan trọng của việc học tập. Một số công trình nghiên cứu về tỷ lệ lƣu giữ kiến thức từ các phƣơng pháp học tập đã thu đƣợc những kết quả hết sức ấn tƣợng về hiệu quả của cácphƣơng pháp dạy học (biểu đồ 1.3:Hiệu quả học tập- Edgar Dale Mặc dù kết quả đƣa ra trong các biểu đồ có khác biệt chút ít, nhƣng ý tƣởng chung mà các nhà nghiên cứu đƣa ra có thể nhận thấy là: - Với lối dạy học theo hình thức nghe giảng, đọc, nhìn, học sinh học đƣợc nhiều nhất là 50% lƣợng kiến thức. Trong đó, nếu chỉ có dạy học suông thì mức độ tiếp thu kiến thức hết sức thấp. Điều này phần nào giải thích đƣợc vì sao phƣơng pháp dạy học theo kiểu thầy đọc-trò chép chƣa mang lại hiệu quả cao.

- Với phƣơng pháp dạy học theo định hƣớng tích cực, nhấn mạnh sự tham gia của học sinh vào quá trình dƣới nhiều hình thức, lôi cuốn học sinh chủ động trong học tập, thì kết quả khác biệt hết sức rõ ràng: có thể đạt đƣợc mức độ tiếp thu kiến thức lên đến 90%.4: Hiệu quả học tập- Daniel Sousa, Stice và một số người khác Phƣơng pháp dạy học tích cực giúp xây dựng thái độ và phát triển tốt kỹ năng, nhất là kỹ năng mềm (kỹ năng giao tiếp, làm việc theo nhóm, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng quản lý thời gian,.) Càng ngày ngƣời ta càng nhận ra tầm quan trọng của thái độ và kỹ năng đối với công việc cũng nhƣ đối với sự thành công của mỗi cá nhân, nhất là trong xu thế phát triển mới của thế kỷ 21. Theo nhận định của Đại học Michigan, đa số học sinh có khuynh hƣớng nghĩ rằng một mức điểm trung bình cao và một mảnh bằng trong tay sẽ bảo đảm sự thành công trong nghề nghiệp, nhƣng thực tế thì bất cứ ai trong thế giới công việc đều biết rằng chỉ có kỹ năng và tính cách mới bảo đảm sự thành công.[5] Về kỹ năng, thuật ngữ kỹ năng mềm (soft skills) đang đƣợc quan tâm rộng rãi bởi lẽ nó có ảnh hƣởng quyết định đến sự thành công nhƣng lại không đƣợc chú ý trong các chƣơng trình đào tạo. Trƣờng Đại học sự phạm Harvard khẳng định tầm quan trọng của kỹ năng mềm khi họ cho rằng: “Bằng việc chỉ đẩy mạnh kỹ năng 12 cứng (hard skills), nhiều trƣờng học ngày nay tiếp tục giáo dục trẻ em cho một nền kinh tế không có lối thoát trong dài hạn” Biểu đồ 1.5: Hiệu quả của chương trình đào tạo mang tính tương tác so với chương trình không tương tác Trong khi đó, phƣơng pháp dạy học truyền thống chủ yếu cung cấp đƣợc kỹ năng cứng, chƣa quan tâm đến kỹ năng mềm. Ngƣợc lại, trong phƣơng pháp dạy học theo định hƣớng tích cực, nhờ vào các hoạt động mà học sinh đƣợc tham gia, có thể phát triển rất tốt thái độ cũng nhƣ kỹ năng mềm.5 là kết quả khảo sát của Nacy Tobler, cho thấy hiệu quả của các chƣơng trình đào tạo mang tính tƣơng tác cao (phƣơng pháp dạy học theo định hƣớng tích cực): cả kiến thức, tƣ duy và thái độ trong những chƣơng trình tƣơng tác đều có sự thay đổi mạnh mẽ so với chƣơng trình không tƣơng tác, nhất là về kỹ năng.

[5,3] Rõ ràng các phƣơng pháp dạy học theo hƣớng tích cực mang lại hiệu quả học tập cao hơn rất nhiều so với phƣơng pháp dạy học theo kiểu truyền thụ một chiều. Giáo viên nói ít lại, dành nhiều thời gian cho việc lôi cuốn học sinh vào các hoạt động đa dạng trong lớp cũng nhƣ ngoài lớp học. Về phía học sinh, chỉ trên cơ sở tham gia, trải nghiệm, họ mới có thể thực sự thấu hiểu và tạo dựng nhận thức cho 13 chính mình. Có lẽ vì vậy mà Howard Hendricks đã khẳng định: “tối đa hóa việc học tập luôn luôn là kết quả của việc tối đa hóa sự lôi cuốn” 1.

Tại Việt Nam Vấn đề phát huy tính tích cực của học sinh đã đƣợc đặt ra trong ngành giáo dục Việt Nam từ những năm 1960 và phát triển mạnh mẽ cho đến nay. Ở thời điểm này, các trƣờng sƣ phạm đã có khẩu hiệu: “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”. Trong cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai, năm 1980, phát huy tính tích cực đã là một trong các phƣơng hƣớng cải cách, nhằm đào tạo những ngƣời lao động sáng tạo, làm chủ đất nƣớc. Từ đó, trong nhà trƣờng hiện nay xuất hiện ngày càng nhiều tiết dạy tốt của các giáo viên giỏi, theo hƣớng tổ chức cho học sinh hoạt động, tự lực chiếm lĩnh tri thức mới.

Vào những năm 80 của thế kỷ XX, trung tâm nghiên cứu và thực nghiệm khoa học-công nghệ giáo dục đã đƣợc thành lập do GS.TSKH Hồ Ngọc Đại làm giám đốc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ