CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC 1. Đổi mới phương pháp dạy học toán Tiểu học theo định hướng tiếp cận năng lực Xuất phát từ nhu cầu chung của xã hội là cần những con người năng động, tích cực, có thể thích nghi được sự thay đổi và phát triển của xã hội hiện đại. Giáo dục thế giới và nước ta đã có nhiều đổi mới, trong đó có đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học.
Luật giáo dục sửa đổi năm 2019 nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực. Trong đó có: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS phù hợp với đặc trưng từng môn học, lớp học và đặc điểm đối tượng HS; bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, khả năng tư duy độc lập; phát triển toàn diện phẩm chất và NL của người học; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào quá trình giáo dục”. Như vậy cốt lõi của việc đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen thụ động. Nghĩa là trong quá trình chiếm lĩnh tri thức ở trường, người học sẽ được tham gia vào các hoạt động thực tiễn, được thực hiện các bài tập, phép tính để khẳng định kiến thức, kĩ năng và NL của mình.
Phương pháp dạy học ở Tiểu học được đổi mới theo định hướng lấy HS làm trung tâm, GV là người tổ chức và hướng dẫn các hoạt động của HS. Theo định hướng này, mọi HS cần thiết và có thể tham gia vào quá trình nhận thức, độc lập suy nghĩ, sáng tạo để hoàn thành nhiệm vụ mà GV giao cho. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ học tập, HS không chỉ lĩnh hội được tri thức mà còn rèn luyện được tính tích cực, tự giác và chủ động trong học tập. Ở cấp Tiểu học hiện nay; chúng ta đang chú trọng đến giáo dục toàn diện, điều này đã được cụ thể hóa trong mục tiêu, nội dung từng môn học, trong đó có môn Toán.
Con đường đổi mới dạy học môn Toán được diễn ra một cách 10 có hệ thống, từ đó rèn luyện cho HS các kĩ năng tư duy như: đếm, phân tích, so sánh, đối chiếu và đưa ra những nhận xét về đối tượng quan sát. Chúng ta cũng nhận thấy trong mấy thập kỉ gần đây, trong tiến trình đổi mới giáo dục, xu thế thiết kế Chương trình giáo dục phổ thông theo hướng tiếp cận NL được khá nhiều quốc gia quan tâm, vận dụng; dần thay thế hướng tiếp cận kiến thức. Tên gọi của cách tiếp cận NL này có đôi chút khác nhau ở những nước khác nhau nhưng thuật ngữ được dùng khá phổ biến là Competency-based Curriculum (Chương trình dựa trên cơ sở NL - gọi tắt là tiếp cận NL). Năng lực thực hiện các phép tính của học sinh Tiểu học a) Năng lực 1) Khái niệm năng lực Nhiều nhà khoa học đã công bố khái niệm NL.
Chẳng hạn: Từ điển triết học, Bản dịch tiếng Việt (1975), tr. 379 đã viết: NL là toàn bộ những đặc tính tâm lý của con người khiến cho nó thích hợp với một hình thức hoạt động nghề nghiệp nhất định đã hình thành trong lịch sử. Theo từ điển tiếng Việt: NL là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó. NL là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao [21, tr.
Trần Văn Hiến Minh (và đồng sự), Từ điển và danh từ triết học (1966), tr. 155: NL là cái sức mạnh tích trữ ở trong con người hay nơi vật, giúp tiếp nhận hay hành động. Theo Từ điển mở Wiktionary: NL là khả năng làm việc tốt, nhờ có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn. Theo Cosmovici thì: NL là tổ hợp đặc điểm của cá nhân, giải thích sự khác biệt giữa người này với người khác ở khả năng đạt được những kiến thức và hành vi nhất định.Leonchiev cho rằng: NL là đặc điểm cá nhân quy định việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định.
Phạm Minh Hạc thì: NL chính là một tổ hợp đặc điểm tâm lí của một con người (còn gọi là tổ hợp thuộc tính tâm lí của một nhân cách), tổ hợp này vận hành theo một mục đích nhất định tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy. (Phạm Minh Hạc, Một số vấn đề về tâm lí học, NXB Giáo dục – 1992, tr. Theo Bùi Hiền - Nguyễn Văn Giáo - Nguyễn Hữu Quỳnh - Vũ Văn Tảo (2001), Từ điển giáo dục, NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội. 277, 278: NL - Khả năng được hình thành hoặc phát triển, cho phép một con người đạt thành công trong một hoạt động thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp.
Từ điển bách khoa Việt Nam, tập 3, tr. NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội 2003: NL, đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo – tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn – một hay một số dạng hoạt động nào đó. Như vậy, khi nói đến NL thì không phải là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó (ví dụ như khả năng tri giác, trí nhớ…) mà là sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý cá nhân; sự tổng hợp này không phải phép cộng đơn thuần của các thuộc tính mà là sự thống nhất hữu cơ, giữa các thuộc tính tâm lý này diễn ra mối quan hệ tương tác qua lại theo một hệ thống nhất định và trong đó một thuộc tính nổi lên với tư cách chủ đạo và những thuộc tính khác giữ vai trò phụ thuộc; đáp ứng được những yêu cầu hoạt động và đảm bảo hoạt động đó đạt được những kết quả mà chủ thể mong đợi. Tóm lại, dựa trên quan niệm của các tác giả đã đưa ra ở trên và nhiều tài liệu khác nữa, chúng tôi đồng tình với định nghĩa: NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,.
thực hiện thành công 12 một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể, [2, tr. 2) Đặc điểm của năng lực Tổng hợp các định nghĩa trên và nhiều tài liệu khác; chúng ta có thể khẳng định: 1) NL của mỗi người không phải chỉ là do bẩm sinh mà có. NL của mỗi người chủ yếu được hình thành thông qua giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng thường xuyên, từ khi còn nhỏ, khi đi học và trong suốt cả cuộc đời. 2) Chúng ta cần phân biệt NL với kĩ năng, kĩ xảo; NL không hoàn toàn là kỹ năng, kỹ xảo.
Tuy nhiên NL sẽ giúp cho quá trình tiếp thu kỹ năng, kỹ xảo được dễ dàng hơn, thuận lợi hơn. NL có tính cá nhân, NL ở những người khác nhau sẽ có sự khác nhau, đây là điển hình của sự khác biệt tâm lý mỗi người. 3) Hầu hết mọi hoạt động và công việc trong cuộc sống đều cần đến NL ở trình độ nhất định. Ngược lại không có loại NL nào lại không dùng để làm gì; nói đến NL là nói đến nó gắn liền với hoạt động nào đó, công việc nào đó.
NL cao sẽ tạo điều kiện giúp cho chủ thể hoàn thành công việc đó tốt hơn. Vì vậy, người GV trực tiếp đứng lớp rất cần chú trọng đầu tư công sức và tâm huyết vào quá trình bồi dưỡng, rèn luyện và phát triển NL cho HS suốt thời gian các em ngồi trên ghế nhà trường. 3) Các thành phần chủ yếu của năng lực Theo mô hình ASK (trường phái Anh); NL chủ yếu bao gồm bởi 3 yếu tố: Thái độ (Attitude), Kỹ năng (Skill), Kiến thức (Knowledge). Theo đó, chúng tôi xác định: - Kiến thức là những hiểu biết mà chủ thể đã thu nhận được từ sách vở, từ học hỏi và từ kinh nghiệm cuộc sống của mình.
- Kỹ năng là sự vận dụng bước đầu những kiến thức thu lượm được của chủ thể vào thực tế để tiến hành hoạt động nào đó. - Thái độ là những suy nghĩ của chủ thể được biểu hiện ra bên ngoài bằng hoạt động nào đó. 13 Ví dụ 1: Để giải bài Toán “Vừa gà vừa chó bó lại cho tròn 36 con 100 chân chẵn hỏi có bao nhiêu gà bao nhiêu chó”; HS Tiểu học cần có: - Thái độ: Tích cực, mong muốn giải được bài Toán. - Kiến thức: Mỗi con gà có 2 chân, mỗi con chó có 4 chân.
- Kĩ năng: Phân tích, nếu tất cả là gà thì chỉ có 2.36 = 72 chân, thừa ra 100 – 72 = 28 chân v.v… Nhiều nhà Tâm lý học đã phân chia NL thành NL chung và NL chuyên môn. Theo đó, chúng tôi đồng tình rằng: - NL chung là NL cần thiết cho nhiều ngành hoạt động khác nhau như NL phán xét tư duy, NL khái quát hoá, NL tưởng tượng. - NL chuyên môn là NL đặc trưng trong lĩnh vực nhất định của xã hội như NL tổ chức, NL âm nhạc, NL kinh doanh, hội họa, Toán học. - NL chung không độc lập – tách rời với NL chuyên môn mà ngược lại, chúng có mối quan hệ qua lại hữu cơ với nhau.
NL chung là cơ sở của NL chuyên môn. Nếu trong một chủ thể, NL chung phát triển thì càng dễ thành công trong phát huy NL chuyên môn. Ngược lại sự phát triển của NL chuyên môn trong những điều kiện nhất định nào đó sẽ có ảnh hưởng ngược lại đối với sự phát triển của NL chung. Chẳng hạn nếu một HS có NL chung về tư duy phát triển sẽ có định hướng để giải bài Toán cụ thể; ngược lại từ chỗ giải được nhiều bài Toán cụ thể, NL tư duy của HS đó sẽ dần dần được phát triển.
Chương trình Giáo dục một số nước trên thế giới (đặc biệt là Cộng hòa liên bang Đức) xác định Cấu trúc chung của NL hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 NL thành phần: NL chuyên môn, NL phương pháp, NL xã hội, NL cá thể. Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 của Việt Nam đã xác định, cấu trúc chung của NL gồm: - Những NL chung (được hình thành và phát triển thông qua tất cả các môn học – NL xuyên chương trình): NL Tự chủ và học tập. NL giao tiếp và hợp tác. NL giải quyết vấn đề sáng tạo.
14 - Những NL đặc thù (được hình thành và phát triển thông qua một số môn học): NL ngôn ngữ. NL tính Toán. NL khoa học. NL công nghệ.